Một ánh nắng lạ, chỉ có những chiều cuối năm mới có, một màu vàng, không lẫn vào đâu được. Cũng là một màu vàng nhưng khác biệt với những ánh nắng chiều vàng nào đó. Người ta thường gọi là nắng tết. Nếu bạn chưa một lần để ý, thì cuối năm nay bạn để ý thử xem.
“Chiều nay đất khách, không nắng quái.
Đành gởi về em, một chút sương.
Cuối năm trời đất mù mưa lạnh
Tôi đọc thư em, chút lửa hồng”.
Sư huynh tôi đi xa, gởi một bài thơ về như thế. Nhớ ánh nắng quái cuối năm.
Một ánh nắng lạ, chỉ có những chiều cuối năm mới có, một màu vàng, không lẫn vào đâu được. Cũng là một màu vàng nhưng khác biệt với những ánh nắng chiều vàng nào đó. Người ta thường gọi là nắng tết. Nếu bạn chưa một lần để ý, thì cuối năm nay bạn để ý thử xem.
Bạn mới vào chùa thì những ngày giáp tết sẽ “tự nhiên” nhớ về nhà, nghĩ nhớ lung tung, nhưng “sợ” sư phụ quá không dám mở lời. Tôi mới vào chùa, cuối năm, len lén ra tảng đá ngồi nhìn biển xa tắp, buồn nhớ nhà. Tưởng sao, huynh Thắng cũng chạy ra ngồi chống cằm kế tôi. “Đệ muốn xin về thăm nhà quá, mà sợ sư phụ”. Từng là ca sĩ nghiệp dư, Thắng hát nho nhỏ, “xuân này con không về..”, tôi huých Thắng, “coi chừng!...”
Trải qua như thế một thời gian, những ngày cuối năm ở chùa thành quen thuộc. Ngài Lai Quả cũng nhắc điểm này:
"Chỗ lạ chuyển thành quen, chỗ quen chuyển thành lạ" nói chung là pháp thế gian và xuất thế gian đều như thế cả.
Tỷ như có người ở Chùa Kim Sơn các ông thì sự việc trong Chùa đều biết, không những là nhà cửa, cột kèo, ngói gạch các ông cũng đều đếm qua từng cái, cũng có thể nói là thông thuộc lắm vậy. Ngày nay đến Chùa Cao Mân một chỗ cũng chẳng thông, cái gì cũng không hiểu được, đây hoàn toàn là lạ vậy; đây cũng là cái lý thông thường thôi và mọi người đều thấy được cả.
Tuy nhiên Chùa Cao Mân là lạ, Chùa Kim Sơn là quen, các ông được ở Chùa Cao Mân một ngày thì đương nhiên sẽ quen được một ngày. Người mới bắt đầu tuy ở Chùa Cao Mân, nhưng tâm vẫn ở Chùa Kim Sơn, đợi đến khi ở được một năm thì mới quen được một năm, ở cho đến hai mươi năm, ba mươi năm thì đương nhiên Chùa Cao Mân cũng quen thuộc cùng cực. Cao Mân quen được một ngày thì Kim Sơn lạ đi một ngày, Cao Mân quen được một năm thì Kim Sơn lạ đi một năm, ba mươi năm cực quen thuộc Cao Mân rồi thì Kim Sơn cũng cực lạ rồi, đây cũng là lẽ thường. Đối với chúng ta thì dụng công cũng như vậy”[1].
Ban đầu còn nhớ, dần dần phai theo năm tháng, tập khí cũ dần mòn, tập khí mới huân vào càng sâu. Ở chùa lâu, mới được tiếng thấm tương chao, lời nói hành động khiến người bên cạnh dù không biết vẫn đoán rằng, nhà sư đã quen chùa hay còn lạ chùa. Chuyện đời dần phai, tâm tính toan dần nhạt mới lộ được vẻ trầm tĩnh trước những biến đổi của đất trời, của tình người.
Nhưng còn ánh nắng quái kia, tôi không nghĩ rằng sư huynh tôi sẽ quên nó, bởi ánh nắng quái đó, không phải là một ánh nắng của cuối năm, mà nó là biểu trưng của quê nhà. Người ta chắc không thể quên quê nhà. Tôi nhớ đoạn ngài Huyền Trang qua đến Tân Cương “Vào nước Y Ngô, Ngài Huyền Trang đến trọ ở một ngôi chùa cổ. Trong chùa có ba vị sư Trung Hoa. Vị già nhất, nghe tin Ngài đến, không kịp đắp y, chạy chân không ra đón Ngài, nghẹn ngào nói giọng đầy nước mắt: –Nào ngờ ở chốn này mà còn gặp được người cố hương". Huyền Trang cũng không cầm được lệ.”
Thôi thì, nắng quái cũng là một chút tình quê hương vậy.
Quán Không
[1] Lai Quả Thiền Sư, Thiền Thất Khai thị lục, (bản dịch Việt: HT Duy Lực)