Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
19:44, Tuesday.May 19 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
ĐỀ ÔN THI MÔN MAC - LÊ
Cập nhật : 09/12/2012 - Đã xem : 13,155 lần

1.      Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

2.      Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

3.      Quy luật phủ định của phủ định.

4.      Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

5.      Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng.

6.   Trình bày hai thuộc tính của hàng hóa và làm rõ mối quan hệ giữa chúng. Phân tích nguồn gốc của hai thuộc tính hàng hóa. Cho ví dụ minh họa.

1- Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá.

    Hàng hóa là một vật phẩm hay dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và được trao đổi với hàng hóa khác.

     Từ định nghĩa trên, có thể thấy được hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. 

a/ Giá trị sử dụng.

         Giá trị sử dụng của vật phẩm là khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu con người, là tính có ích hay công dụng của nó.

    Đặc điểm của giá trị sử dụng:

    . Giá trị sử dụng ngày càng được tìm tòi, phát hiện do sự phát triển của sản xuất và đời sống cũng như do khoa học kỹ thuật. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng có nhiều loại và được xem là có tính lịch sử cụ thể.

. Giá trị sử dụng cơ bản giúp thỏa mãn nhu cầu con người, nên là thuộc tính tự nhiên của bất cứ một vật phẩm nào, dù vật phẩm đó có là hàng hóa hay không, tức là không kể hình thức xã hội của nó là như thế nào. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng được xem là một phạm trù vĩnh viễn.

. Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải dành cho người sản xuất ra nó mà là dành cho người mua nó. Do vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa tùy thuộc vào sự đánh giá của người mua, tùy theo nhu cầu, thị hiếu của họ. Sự đánh giá này vừa mang tính phổ biến khách quan, vừa mang tính đặc thù chủ quan. 

. Giá trị sử dụng nói lên mặt chất của hàng hoá, bởi vì nó giúp phân biệt các loại hàng hóa khác nhau. 

b/ Giá trị trao đổi và giá trị.

    Giá trị trao đổi của một hàng hóa là khả năng trao đổi của nó, thể hiện qua tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa đó với một hàng hóa khác.

Ví dụ: Giá trị trao đổi của vải so với gạo là: 1 m vải ó10 kg gạo.

Vải và gạo là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng được trao đổi với nhau vì chúng thuộc hai chủ sở hữu khác nhau, cần đến sản phẩm của nhau và chỉ cần điều chỉnh tỷ lệ hợp lý là có thể đi đến thống nhất trao đổi.

Theo K. Marx, chúng được trao đổi với nhau vì chúng đều là sản phẩm của lao động và đều kết tinh một lượng lao động hao phí như nhau, tức là lượng lao động hao phí để làm ra 1 m vải bằng với lượng lao động hao phí để làm ra 10 kg gạo.

K. Marx đã xây dựng khái niệm giá trị: Cái kết tinh của lao động vào trong hàng hóa (được xã hội thừa nhận), được gọi là giá trị của hàng hóa.

Giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị.

Đặc điểm của giá trị:

- Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính đặc trưng của hàng hóa, bởi vì một vật phẩm là hàng hóa phải được dùng để trao đổi, phải so sánh với hàng hóa khác.

- Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa, bởi vì nó biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa.

- Giá trị trao đổi cho thấy mặt lượng của hàng hóa, bởi vì nó là tỷ lệ các lượng hàng hóa, phản ánh chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa. Nhờ giá trị trao đổi thích hợp mà có thể so sánh các hàng hóa khác nhau và bù lại sự khác biệt về giá trị sử dụng của chúng.

- Giá trị trao đổi hay giá trị chỉ được xét đến trong điều kiện kinh tế hàng hóa, do vậy nó được xem là một phạm trù lịch sử.

c/ Quan hệ giữa các thuộc tính của hàng hoá.

- Đây là mối quan hệ giữa mặt chất và mặt lượng của hàng hóa.

            - Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị.

Đây là là hai thuộc tính đồng thời tồn tại và thống nhất trong một hàng hóa. Giá trị sử dụng cũng là một căn cứ của giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là cái phản ánh của giá trị sử dụng.

Nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập, bởi vì:

. Chúng là mục đích của đôi bên, nhưng đôi khi không đạt được. Mục đích của người sản xuất là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng. Nếu họ có quan tâm đến giá trị sử dụng cũng chỉ nhằm đạt mục đích giá trị mà thôi. Ngược lại, người mua lại chỉ cần giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn vậy thì trước hết phải thực hiện giá trị mới chi phối được giá trị sử dụng.

Thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về không gian và về thời gian. Nói chung, quá trình thực hiện giá trị được tiến hành trước, trên thị trường; còn quá trình thực hiện giá trị sử dụng được tiến hành sau, vào lúc tiêu dùng.

2. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.

Theo Karl Marx, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị, vì lao động sản xuất ra hàng hóa có tính chất hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.

Lao động cụ thể là lao động theo chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có mục đích, đối tượng cụ thể, với công cụ lao động riêng và kết quả là tạo ra các giá trị sử dụng của hàng hóa.

Lao động cụ thể có thể được xem là cơ sở của sự phân công lao động xã hội.

Lao động trừu tượng là lao động được hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự hao phí sức lực một cách phổ biến, khách quan không kể đến công việc cụ thể của nó như thế nào và kết quả là tạo ra giá trị của hàng hóa.

Chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới có tính chất trừu tượng, bởi vì trong điều kiện đó các loại lao động cụ thể khác nhau mới được so sánh với nhau.

Lao động trừu tượng được biểu hiện ra là lao động cá biệt và lao động xã hội. Lao động xã hội có thể được phân biệt thành lao động ngành và lao động xã hội cần thiết.  

7.      Tích lũy tư bản, tích tụ tư bản và tập trung tư bản.

Phân tích thực chất và động cơ của tích lũy tư bản. Trình bày mối quan hệ và sự khác nhau giữa tích lũy tư bản và tập trung tư bản. Vai trò của tập trung tư bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

1- Khái niệm và nhận xét về tích lũy tư bản.

a/ Khái niệm về tích lũy tư bản:

    Tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư, tái đầu tư, tức là chuyển một phần giá trị thặng dư thành tư bản bổ sung.

Để thực hiện tích lũy, nhà tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân mà phải chuyển một phần thành tư bản bổ sung.

Ví dụ :

+ Năm 2006, kết quả sản xuất (doanh thu) là: 70 (C) + 30 (V) + 60 (M) = 160 triệu USD

+ Năm 2009, nhà tư bản thực hiện tích lũy 50% (M), tức là chuyển 30 triệu USD thành tư bản phụ thêm và đưa vào sản xuất với C/V và m’ không đổi thì quy mô sản xuất với C, V, M đều tăng lên là : 91 (C) + 39 (V) + 78 (M) = 208 triệu USD

b/ Nhận xét về tích lũy tư bản:

- Điều kiện của tích lũy tư bản là khối lượng giá trị thặng dư.

- Giá trị thặng dư tư bản hoá trở thành phương tiện để đạt mục đích là giá trị thặng dư mới.

- Tích lũy tư bản là tất yếu khách quan, mà động cơ thúc đẩy là quy luật giá trị thặng dư.

- Tích lũy tư bản là một điều kiện hay khả năng của tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa.

2- Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy.

    Quy mô tích lũy tư bản tùy thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích lũy và cho tiêu dùng. Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia cho tích lũy và tiêu dùng của nhà tư bản. Nếu tỷ lệ phân chia đó cố định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào các nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư, đó là:

    - Tăng cường độ lao động, độ dài ngày lao động, tăng ca sản xuất: m tuyệt đối.

    - Tăng năng suất lao động: m tương đối và m siêu ngạch.

    - Quy mô tư bản đầu tư, khả năng và hiệu quả của tập trung tư bản.

    - Sử dụng tư bản tiềm tàng: sử dụng quỹ khấu hao (do sự chênh lệch giữa tư bản cố định sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng) như là một khoản tư bản phụ thêm.

+ Kết quả của quá trình tích lũy tư bản chủ nghĩa:

    - Về mặt kinh tế: Quá trình tích lũy tư bản làm cho qui mô tư bản và cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên, tạo điều kiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng cũng như theo chiều sâu.

Cấu tạo hữu cơ của tư bản là tỷ lệ tương ứng giữa tư bản bất biến với tư bản khả biến dựa trên cơ sở tỷ lệ tương ứng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động. Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị và do cấu tạo kỹ thuật quy định.

C/V tăng lên bởi vì C tăng nhanh hơn V, nhất là ở những ngành công nghiệp nặng. Về thực chất, nhà tư bản chú trọng tăng cường cho C là để tăng tích trữ tài sản cho mình.

    - Về mặt xã hội: Sự gia tăng cấu tạo hữu cơ còn là một nguyên nhân của nạn thất nghiệp - nạn nhân khẩu thừa tương đối và sự bần cùng hoá giai cấp công nhân.

Vai trò của tập trung tư bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản:

Tập trung tư bản có vai trò quan trọng, nếu không có nó thì chủ nghĩa tư bản không thể xây dựng nên những công trình to lớn như đường sắt, bến cảng, sân bay...; nhà tư bản mới có thể thực hiện được những hợp đồng lớn. Tuy nhiên, tập trung tư bản có thể được thực hiện một cách tùy tiện, bất chấp hiệu quả gây lãng phí và khủng hoảng kinh tế.

Đối với nền kinh tế nước ta hiện nay – nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung tư bản được gọi là tập trung vốn cũng có những ý nghĩa như vậy nhưng những mặt tiêu cực sẽ được giảm thiểu và những mặt tích cực sẽ được phát huy dựa trên cơ sở của nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ở Việt Nam, tập trung vốn giúp tăng qui mô vốn mà không thực hiện tích lũy vốn trong tình hình kinh tế còn khó khăn, nhờ vậy mà có thể đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

8.      Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

Trình bày khái niệm, phân tích nguyên nhân xuất hiện và hình thức biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

1- Bản chất và nguyên nhân xuất hiện:

a/ Bản chất:

    Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hệ thống những chính sách, hình thức mà Nhà nước tư bản sử dụng để quản lý, điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và để đáp ứng lợi ích của các tổ chức tư bản độc quyền, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được thể hiện ở các điểm sau:

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chính là một hình thức mới của sự vận động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Đây không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản mà chỉ là mức độ cao của giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.

b/ Nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

    - Do nền sản xuất ngày càng xã hội hóa cao, đòi hỏi phải có sự điều tiết xã hội đối với nền kinh tế.

Sự xã hội hóa cao của sản xuất do quá trình tập trung, chuyên môn hóa nền sản xuất xã hội cùng với những thành tựu mới của tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển không đồng bộ, cơ cấu kinh tế thay đổi không hợp lý. Trong điều kiện đó, đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước đối với các quá trình kinh tế, nhằm ổn định và phát triển kinh tế.

    - Sự thống trị của các tổ chức độc quyền làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn xã hội gay gắt... đã đòi hỏi Nhà nước tư bản phải can thiệp vào nền kinh tế, nhằm đáp ứng lợi ích của các tổ chức độc quyền cũng như lợi ích của xã hội.

Nhà nước tư bản có thể phải giới hạn sự tự do hoạt động của tư bản độc quyền, để làm mềm hóa những mâu thuẫn và hạn chế các hậu quả tiêu cực do sự thống trị của độc quyền sinh ra, nhằm bảo vệ và phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

- Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và sự bành trướng của các công ty độc quyền quốc tế làm tăng mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước tư bản phát triển với nhau và với các nước đang phát triển. Điều này đòi hỏi Nhà nước tư bản cần có chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp.

    Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nảy sinh như một tất yếu kinh tế, phần nào đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xã hội hóa cao độ trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản.

2- Những hình thức biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

a/ Sở hữu và tài chính nhà nước được sử dụng như là một công cụ kinh tế trực tiếp:

Sở hữu nhà nước được hình thành từ ngân sách nhà nước, bằng cách phát hành trái phiếu,… Sở hữu nhà nước được sử dụng để đầu tư phát triển các ngành ít lợi nhuận, cần vốn lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng, để nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật mà kết quả không chắc chắn, để mua lại những xí nghiệp tư bản bị phá sản, để trợ cấp xã hội,…

    b/ Sự điều chỉnh và kiểm soát của Nhà nước tư bản đối với nền kinh tế thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế bao gồm hệ thống chính sách, hệ thống pháp luật và các công cụ kinh tế khác.

    Các công cụ kinh tế rất đa dạng, thường được sử dụng cho nhiều chính sách kinh tế khác nhau và có thể phân biệt làm hai loại qua tác dụng của chúng là công cụ kích thích và công cụ điều tiết kinh tế.

c/ Sự kết hợp cá nhân giữa tổ chức độc quyền và Nhà nước tư bản:

Hội chủ xí nghiệp có mối quan hệ gắn bó với các đảng phái chính trị của giai cấp tư sản; cung cấp kinh phí cho các đảng phái và quyết định không chỉ số lượng mà cả thành phần nhân sự ứng cử vào Nghị viện và sau đó còn tham gia vào việc thành lập Chính phủ. Từ đó, các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau. Nhờ vậy, những quyết định, chính sách có lợi cho tư bản độc quyền sẽ được ban hành.

Ngoài ra, các quan chức và nhân viên chính phủ cũng tìm cách thâm nhập vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, nắm giữ những vai trò trọng yếu.

9.      Vấn đề dân tộc trong tiến trình xây dựng CNXH

-      Nội dung cương lĩnh dân tộc của CNM-L

Liên hệ: Tình hình, đặc điểm dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay.

Chính sách DT của Đảng và Nhà nước ta hiện nay dựa trên những nguyên tắc cơ bản nào của chủ nghĩa M-L về vấn đề DT ?

Dựa trên những nguyên tắc cơ bản của CN M-L (được thể hiện trong cương lĩnh DT của Lê nin).

+ Các DT hoàn toàn bình đẳng

+ Các DT có quyền tự quyết

+ Liên hiệp CN các DT lại.

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này