|
Câu 1: Hiện thực xã hội TK 18-19 được phản ánh vào trong văn học như thế nào?
Gợi ý:
-Về tình hình lịch sử nước nhà lúc đó như thế nào, dân tình ra làm sao, tùy theo những tác phẩm người ta có phản ánh một khía cạnh này hay nhiều khía cạnh.
+Phản ánh về số phận người phụ nữ.
+Phản ánh về con người cá nhân.
+Phản ánh về hiện thực xã hội đang diễn ra.
Và nếu nói về con người cá nhân thì chúng ta phải lý giải tại sao đến giai đoạn này nói con người cá nhân mà không nói con người cộng đồng.
Câu 2: Chủ nghĩa nhân đạo bao gồm những vấn đề gì và thể hiện như thế nào trong văn học bao gồm văn học thế kỷ 18-19.
Gợi ý:
Như Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm, Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều, Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, thơ Nôm v.v…
Câu 3: Hình ảnh người phụ nữ thể hiện trong văn học như thế nào?
Câu 4: Thơ trữ tình của các tác giả như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ.
Gợi ý:
-Lấy 1 bài thơ, 1 đoạn thơ Chinh Phụ Ngâm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ phân tích về tác phẩm./.
Câu 1: Hiện thực xã hội TK 18-19 được phản ánh vào trong văn học như thế nào?
TL:
1-Hoàn cảnh lịch sử sự kiện thời đại quan trọng
*Sự kiện thứ nhất sự sụp đổ của chế độ phong kiến và đời sống cơ cực của người dân:
Thế kỷ 10 chế độ phong kiến phát triển đi lên và đỉnh cao của chế độ phong kiến ở TK 15.
TK 15 hầu hết những ông Vua thật sự yêu nước lo cho dân,Vua Lê Thánh Tông hết lòng vì đất nước thông qua cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập dân ta đã giành thắng lợi lớn. Tuy nhiên ở giai đoạn phát triển cực thịnh nhất nó lại mang trong lòng nó mầm móng sụp đổ, xuống dốc đến TK 16-17.
Chứng minh qua con đường đi của chế độ PK.
-Sau vua Lê Thánh Tông, có Lê Huy Một và Lê Phương Dật hai ông vua này nhân dân đặt tên là vua quỷ vua lợn chơi bời chát tán hưởng lợi không lo cho dân.
-Đến TK 18 bắt đầu vua Lê Hiển Tông, vua ngồi trên ngôi rất lâu nhưng chỉ là ông vua bù nhìn xơi nước và đặc biệt vừa có vua và có chúa, quyền hành tất cả đối ngoại đối nội đều do chúa Trịnh đảm nhiệm, và chúa thường lấn hiếp nhà vua nên tình hình rất lộn xộn.
Do các ông vua và chúa tranh quyền với nhau đã bỏ mặt người dân, vì vậy người dân khắp nơi nổi dậy tuy không có chiến tranh lớn nhưng có những cuộc chiến tranh nhỏ xảy ra, tình hình rất rối ren vì tranh quyền đoạt lợi cho nên văn hóa giáo dục không được sự giúp sức của chính quyền PK lúc bấy giờ.
Đi sâu vào nội bộ của vua chúa cũng có những lộn xộn.
Thái tử con vua Lê Hiển Tông là Lê Duy Vĩ
Lê Duy Vĩ và Trịnh Sâm có mối thù và sau này Lê Duy Vĩ bị Trịnh Sâm giết chết.
Lê Hiển Tông ngồi trên ngôi nhưng cũng không bảo vệ được chính con mình. Thái tử Lê Duy Vĩ là con rễ của Trịnh Doanh, Trịnh Sâm nói “Vua ấy không đứng đôi với chúa này”. Khi Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi, khi đó Lê Duy Vĩ vẫn còn là Thái tử. Trịnh Sâm đã vu tội cho Lê Duy Vĩ tội thông dâm với cung nữ của vua cha, Lê Duy Vĩ bị oan đến cầu cứu vua cha nhưng vua cha cũng không cứu được con mình, quân Trịnh Sâm đến bắt Lê Duy Vĩ cho nên gọi ông là vua bù nhìn.
Nối ngôi vua Lê Hiển Tông là Lê Chiêu Thống là cháu nội của Lê Hiển Tông và là con của Lê Duy Vĩ.
Lê Chiêu Thống ông vua này bất tài không có gì để thán phục, ông vua này lên ngôi là do Tây Sơn đưa lên, sau khi Tây Sơn rút thì ngôi vị cũng lung lay vì các chúa Trịnh quay trở lại, và sau đó khi Tây Sơn ra Bắc bắt lần thứ hai thì Lê Chiêu Thống bỏ chạy, chạy sang Tàu cầu cứu vua Thanh, xin vua Thanh đưa quân về chiếm lại ngôi vị của mình. Như thế chúng ta thấy trong lịch sử nước ta có một ông vua đã đưa quân xâm lược về để giày xéo quê cha đất tổ, là ông vua bán là ông vua nước cõng rắn cắn gà nhà, và chính trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã ghi rõ trong lịch sử nước Nam ta từ khi có đế có vương cho đến giờ thì Lê Chiêu Thống là một ông vua hèn hạ nhất, và lịch sử đã ghi rõ là ông vua mang tội với nhân dân. Tây Sơn ban đầu chỉ là phong trào khởi nghĩa nông dân thôi nhưng sau đã lớn mạnh dần và giữ vững vai trò bảo vệ đất nước dân tộc chiến thắng quân Thanh.///
Lê Duy Cẩn là vai chú của Lê Chiêu Thống, khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu thì ở đây Tây Sơn cũng đã cắt cử Lê Duy Cẩn lên làm giám quốc chưa phải là vua, mà thật sự bất tài không làm được việc cũng vô tích sự.
Vua tiếp theo giai đoạn này làNguyễn Huệ, tức là phong trào Tây Sơn trước khi đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, tiếp theo là nhà Nguyễn Tây Sơn.
Về phía Chúa Trịnh trong nội bộ rất là lộn xộn, khi Trịnh Sâm lên ngôi, trong sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả về bề ngoài của Trịnh Sâm vẻ ngoài giống thiên tử con trời nhưng hành động của ông ta không có gì, cái nổi bậc nhất của ông ta là tuyển chọn cung nữ quá nhiều và các sách sử ghi lại là ngày đêm chỉ vui chơi với đám cung nữ.
Từ ngày có bà phi yêu dấu tên Đặng Thị Huệ, Đặng Thị Huệ xuất thân là nàng hầu thôi từ khi xuất hiện và lọt vào mắt xanh của Trịnh Sâm từ đấy bao nhiêu cung nữ dẹp qua một bên, Đặng Thị Huệ được chúa Trịnh Sâm sủng ái rất nhiều , Đặng Thị Huệ đã sinh cho Trịnh Sâm một người con là Trịnh Cán, trước đó Trịnh Sâm cũng có 1 con trai trưởng là Trịnh Tông, khi Trịnh Tông được 16-17 tuổi biết cha của mình ghét mình.
Nguyên do Trịnh Sâm ghét con trai Trịnh Tông là: mẹ của Trịnh Tông là bà Dương Ngọc Hoan không được chúa sủng ái nhưng do bà có mưu mô và kết quả được chúa Trịnh sủng ái và kết quả là có 1 người con trai Trịnh Tông (Trịnh Khải) Trịnh Tông đoạt ngôi không thành bị gián xuống làm con thứ.
Trịnh Sâm trước khi mất truyền ngôi cho Trịnh Cán (Trịnh Cán khi lên ngôi còn rất nhỏ chưa được 10 tuổi vì thế cắt cử 7 vị đại thần theo phò trợ), Trịnh Cán lên ngôi không bao lâu thì bị bọn kiêu binh binh lính thời bấy giờ (từ đội ưu binh theo chúa Trịnh giúp vua Lê trung hưng lại đất nước vì thế nó nghĩ nó có công rất lớn, vì thế bọn này từ ưu binh trở thành kiêu binh, trong thời kỳ này tình hình lộn xộn cũng có sự góp mặt của bọn này, bọn kiêu binh đi từng nhóm đi với nhau và nó kéo đến đâu cướp bóc và hãm hiếp phụ nữ bọn này rất ghê gớm gọi chúng là bọn kêu binh).
Trong lúc Trịnh Cán lên ngôi như vậy thì bọn kiêu binh cùng đại đa số quần chúng nhân dân rất bất bình, họ cho rằng có con trưởng không truyền ngôi mà lại truyền ngôi cho con thứ, Trịnh Cán còn nhỏ như vậy thì làm được gì, do đó một lần họ đã nổi dậy lật đổ Trịnh Cán và đưa Trịnh Tông lên ngôi.
Trịnh Tôngđược lên ngôi là nhờ vào sức mạnh của bọn kiêu binh, bọn kiêu binh này như đã nói nó là kiêu binh, vì thế nó đã đưa chúa lên được thì nó cũng có thể làm đủ thứ yêu sách này yêu sách nọ đối với Chúa, từ ngày lên ngôi chỉ lo đối phó với chúng, thực tế Trịnh Tông cũng không có tài gì, nghe lời một số viên quan cận thần bọn kiêu binh này quấy nhiễu quá như vậy cho nên phải giết chết vài tên để răn đe, lựa mấy tên có tội lớn giết chết mấy tên, và sau đó bọn nó nổi dậy đang đêm nó tìm đến nhà những ông quan bày mưu cho vua giết kiêu binh đốt nhà và đuổi đánh hai viên quan, một ông quan và ông kia là cậu của chúa đã chạy vào phủ chúa, chúa và mẹ chúa năn nỉ vái lạy, nó tha cho 1 ông là cậu của chúa nó hoành hành ghê gớm như vậy.
Trước tình hình lộn xộn như thế Trịnh Tông bỏ chạy và sau đó bị bắt giao nộp cho Tây Sơn và cuối cùng ông tự tử không làm nên công trạng gì. Tây Sơn diệt Trịnh tan tác khắp nơi.
Còn lại hai ông Trịnh Bồng và Trịnh Lệ, hai ông này là chú hoặc bác của Trịnh Sâm, hai ông này do nhờ việc phó tá cận thần nên được lên ngôi trong 1 thời gian ngắn sau đó bị Tây Sơn đánh đuổi và kết thúc luôn trong thế kỷ này vua và chúa. Trịnh Lệ Và Trịnh Bồng cũng là tham ngôi báo chứ không có tài cán gì.
Thời Nguyễn Tây Sơn sau khi đánh đuổi quân Thanh, Nguyễn Huệ đã bắt tay xây dựng đất nước, chỉnh đốn mọi mặt, kinh tế, văn hóa chữ Nôm trước kia xem nhẹ chữ Nôm thì đến thời này xem trọng chữ Nôm thay thế chữ Hán một mặt có bước phát triển, rất tiếc Nguyễn Huệ trên ngôi vài năm sau đó ông đột ngột qua đời. Con của Nguyễn Huệ là Nguyễn Quan Toản lên ngôi kế sự nghiệp vĩ đại của cha để lại nhưng không giữ được và chỉ vài năm sau và thất bại bởi Nguyễn Ánh.
Thời Lê đến thời Tây Sơn đến Thời Nguyễn, sau Nguyễn Ánh còn một vài ông vua nữa là Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Tự Đức là ông vua giống như vua Lê Chiêu Thống mặc dù không trực tiếp nhưng gián tiếp bán nước.
Triều vua Tự Đức móc 1858 thực dân Pháp chính thức nổ phát súng đầu tiên chính thức xâm lược nước ta.
Toàn bộ diễn biến của các triều đại từ Lê -Trịnh, Tây Sơn cho đến Nguyễn tình hình như vậy, từ những cuộc tranh giành ngôi vị chiến tranh xảy ra thì người dân gánh chịu hậu quả đau thương, vua chúa không chú ý chăm lo về đời sống cho nười dân, giai đoạn này người dân chết đói rất nhiều.
Tình hình của người dân:
Trong sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí thì Phan Huy Chú đã ghi rõ, vì sự trưng thu quá mức người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề, có người vì thuế sơn sống mà phải chặt cây sơn, có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cưỡi, cũng có kẻ vì phải nộp gỗ cây mà phải bỏ rìu búa, vì phải nộp cơm cá mà phải xé lưới chài, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoa vườn tược, đã không chăm lo người dân mà còn xiết chặt người dân hơn nữa bằng việc thu thuế.
Trong sách Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng ghi nhân dân bỏ cày cấy trong làng xóm không còn nhà nào có thóc gạo dự trữ, dân lưu tán bồng bế dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường, giá gạo cao vọt 1 quan (100 đồng) không ăn được một bữa cho no, dân thường ăn rễ cây, thịt chuột, thịt rắn số dân đi lang thang 10 phần chết đói mất 9, những làng xưa kia có tiếng trù phú nay chỉ con 2, 3 nhà thôi.
Không có thóc gạo để dành, việc ruộng đồng không ai chăm lo, ngày trước những ông vua có chính sách khuyến nông và khuyến khích người dân làm nông, còn bây giờ thu thuế nhiều quá nên người ta phải bỏ nghề chính của mình đi nơi khác làm ăn. Thời điểm này có sự giao lưu mua bán với nước ngoài, cho nên cũng hình thành một số nơi như phố chợ cho nên người dân đổ xô về phía đó để mong kiếm được con đường sinh nhai cho mình, thế nhưng không phải người nào đi về phía đó là được chỉ người nhanh nhạy mới nắm bắt cơ hội nào đó cho mình mới có thể làm việc gì đó, phần đông những người dân quê chân chất thật thà đi đến những nơi như vậy thì không làm ăn được cho nên thay chết đói đầy đường. Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng kể lại như thế này: “Sơn Nam vẫn gọi là nơi giàu có nhất bây giờ không có thóc lúa để dành các nhà đều trống như chiếc khán tre” trong Tùy Ngũ Trung Bút cũng ghi “có những năm ở Hải Dương có làng đều chết đói gần hết và đói đến nổi xảy ra thảm cảnh ăn thịt nhau”.
Những năm như vậy ông trời lại trực tiếp gián xuống những thiên tai cho nên càng gây thêm những cảnh khó khăn cho đời sống người dân hơn nữa. Năm Đinh sửu các vị Sơn Tây bị gió to phát sinh chiến dịch dân cư 10 phần chỉ còn 1,2 phần chết vì bệnh dịch, năm Mậu tý hạn hán dân bị đói to, năm Đinh Dậu luôn mấy năm mất mùa hay chết đói nối liền nhau
Đến TK 18 và qua nửa đầu TK 19 chúng ta thấy chế độ phong kiến đang tuộc dốc một cách khủng khiếp và người ta gọi đó là sự sụp đỗ không gì cưỡng lại được. Đến triều Nguyễn đặc biệt vua Minh Mệnh là ông vua nổi trội trong các ông vua triều Nguyễn, đây là một ông vua anh minh, có tính quyết đoán đã làm được việc mà lịch sử đã ghi nhận, ngoài ông vua này thì ông vua khác có chính làm người dân vẫn nổi dậy chống triều đình, cho nên nếu chúng ta nói triều Nguyễn vực dậy chế độ phong kiến thì nó cũng chỉ là bước kéo dài thêm, cho đến đầu TK 20 thì nó cáo chung. Đây chính là tình hình, diễn biến quan trọng thứ nhất của sự sụp đỗ chế độ phong kiến qua các thời đại.
*Sự kiện thứ hai sức mạnh quật khởi của phong trào nông dân khởi nghĩa:
TK 18-19 người ta còn gọi là thời kỳ nông dân khởi nghĩa, ở giai đoạn trước cũng có nông dân khởi nghĩa nhưng mỗi triều đại như vậy chỉ có vài cuộc khởi nghĩa nhưng ở giai đoạn này có rất nhiều cuộc khởi nghĩa xảy ra một lúc ở nhiều địa phương đây đó người ta nổi dậy, cho nên người ta gọi thế kỷ của nông dân khởi nghĩa. Lịch sử nước ta chưa bao giờ trong một thời gian ngắn mà lại diễn ra các phong trào nông dân sôi nổi và rầm rộ như vậy.
Người ta thống kê từ năm 1737 một nhà sư đã bắt đầu phong trào khởi nghĩa này ở Tam Đảo, sau đó, 1739,1738, 1740 và nổi bậc là phong trào của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất, Ngô Trác Oánh, những thủ lĩnh của phong trào này được người dân xem như chúa của mình, đặc biệt với ông Hoàng Công Chất được người dân ở vùng Tây bắc xem như chúa của mình, chúa thương yêu nhân dân.
Năm 1741 có hai phong trào rất quy mô khi quân Nguyễn Tuyển tan rả, Nguyễn Danh Phương phong trào quận Hẻo là một vị trí quan trọng trong triều đình tiếp tục với quy mô lớn. Nguyễn Hữu Cầu còn có bài thơ “Chim trong lồng” rất nổi tiếng là một người trong đội quân của Nguyễn Cừ, khi Nguyễn Cừ thua trận thì Nguyễn Hữu Cầu đã đứng dậy và xây dựng lực lượng ở địa bàn rộng hơn và đã làm được việc lớn hơn gây nên thân thế khiến cho quân triều đình phải khiếp sợ.
Năm 1771 ở đàng trong từ trước TK 16 bắt qua TK 17 hai phía chúa Trịnh và chúa Nguyễn đã thôi không đánh nhau nữa và tạm chia cắt đất nước và lấy sông Gianh làm móc đánh dấu đàng trong và đàng ngoài, phía Bắc là đàng ngoài, phía nam là đàng ngoài. Và từ khi chia cắt đất nước như vậy người dân ở 2 vùng không qua lại, cho nên khi Tây Sơn đưa quân ra Bắc thì người dân Bắc Hà người ta coi đó là người dân nước khác chứ không phải người cùng một nước.
Ở đàng trong đã nổ ra cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong lịch sử nước ta đó là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn ý nghĩa lớn lao của cuộc khởi nghĩa này ở chỗ nó lan rộng đến qui mô toàn quốc giữ được vai trò bảo vệ độc lập của dân tộc và đã thực hiện vẻ vang các nhiệm vụ dân tộc trọng đại, theo lịch sử Tây Sơn đã đập tan chính quyền phong kiến Lê Trịnh ở đàng ngoài, và cả chúa Nguyễn ở đàng trong.
Ở đàng trong Tây Sơn đập tan chính quyền chúa Nguyễn, cụ thể là Nguyễn Ánh đã chạy ra đảo Phú Quốc sống ở đó. Và đã đánh đuổi đội quân xâm lược Xiêm trận Rạch Gầm xoài múc trận đánh rất vẻ vang của Tây Sơn, đàng ngoài đánh đuổi đội quân xâm lược là quân Thanh, và nhiệm vụ quan trọng cao cả nữa là xóa bỏ ranh giới chia cắt đất nước trên 2 thế kỷ và từ đó thồng nhất đất nước, người dân được cơm no áo ấm, và điểm nữa là Tây Sơn xây dựng chính sách về kinh tế, về văn hóa rất tiếng bộ đặc biệt chữ Nôm được phát triển.
Làm cuộc thông kê triều Nguyễn Ánh có 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, triều vua Minh Mệnh có 200 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ tiếp nối thời Thiệu Trị vài năm thôi, đến Tự Đức cũng có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, khi triều Nguyễn khôi phục lại chế độ phong kiến vẫn không có gì khởi sắc hơn, vì thế người dân tiếp tục phản đối chính quyền vì họ sống không nổi.
Và ở đây còn cho thấy các phong trào khởi nghĩa nhân dân còn biểu hiện mâu thuẫn không thể điều hòa giữa tầng lớp thống trị và bị trị, nó phản ánh những mâu thuẫn cơ bản chất chứa từ lâu đời trong lòng xã hội phong kiến, ví dụ nạn chiếm giữ ruộng đất, nạn sưu cao thuế nặng, nạn nội chiến phong kiến điều đó đã góp phần phá hủy đời sống tốt đẹp yên bình của người dân, tạo nên nạn đói sự bần cùng của người dân, người sống không yên ổn đã ly tán khắp nơi. Như vậy ta nói phong trào nông dân là nhân tố xã hội quan trọng tạo nên tính liên tục và nhất quán trong vị trí lịch sử phức tạp của giai đoạn này.
*Sự kiện quan trọng thứ ba kinh tế hàng hóa phát triển tầng lớp thị dân xuất hiện:
Ở đây chúng ta chỉ nói đến kinh tế hàng hóa phát triển vì những năm đó có sự giao lưu mua bán giữa nước ngoài và nước ta, họ đưa hàng hóa đến nhiều hơn, trong nước chỉ có nghề gốm, dệt vải chỉ chút ít thôi không được bao nhiêu và không bằng các nước cũng không trao đổi, ta trao đổi cái có được từ thiên nhiên như ngà, sừng của thiên nhiên trao đổi với nước ngoài. Họ mang đến cho mình những kết quả thành tựu nền văn minh của nước ngoài ví dụ cụ thể như xe đạp, mắt kính, đồng hồ…
Vải lụa cũng có nhưng chỉ phục vụ cho hoàng tộc thôi, còn người dân chết đói đầy đường như thế có đâu mà mua sắm được, đối với nước ta việc giao lưu mua bán rất quan trọng, vì nó hình thành các đô thị lớn như kinh kỳ, phố Hiến, Hội An đã hưng thịnh một cách rõ rệt và trở thành những trung tâm buôn bán lớn. Việc mua bán quan trọng là giao lưu về mặt văn hóa giống như tiếp nhận một luồng gió mới mở rộng tầm mắt cho người dân, làm cho đầu óc thoáng hơn không còn bị ràng buộc bởi đạo lý phong kiến chèn ép nữa, người ta tiếp thu những cái mới làm thay đổi những quan niệm xưa cũ, suy nghĩ rộng hơn, cảm thấy những gì chật hẹp khuôn khổ bó buộc của đạo lý phong kiến trở nên lạc hậu không còn phù hợp, nó kết hợp đánh giá sự sụp đỗ gần như tất yêu của chế độ phong kiến, và sự vùng dậy tìm con đường sống của người dân ba yếu tố này kết hợp lại làm cho mở mang đầu óc của người dân.
Ví dụ câu chuyện nói về đôi mắt thần của vua Minh Mạng, trong các vị đến nước mình mua bán lúc nào cũng có tặng phẩm quà tặng rất biệt có giá trị, những quà tặng như vậy ông vua làm chủ đưa vào kho và sử dụng lúc nào tùy ý, năm đó có 1 vật người ta đồn ra rất kỳ lạ, nhà vua xem xong rồi sai cất vào trong kho, nhưng không biết vì sao tin đồn cứ ra bên ngoài các viên quan, các vợ của viên quan cho đến người dân thường bên cũng biết có vật kỳ dị ở trong cung.
Vua Minh Mạng là ông vua rất sáng suốt đâu ra đấy không thích lập lờ, cho nên vua đã cho gọi tập họp lại và vua nói ta xem không thấy gì, nay ta ra lệnh cho các ông quan xem, các bà vợ của các quan xem, rồi các cung nữ xem, các ông xem rất thích, các bà xem sợ và bỏ chạy. Vật đó là đồ chơi là ống nhòm và trong đấy là hình một cô gái khỏa thân, sau khi mọi người xem như vậy thì vua nói ta xem ta thấy bình thường tại sao các khanh xem lại như thế, có một ông quan bước lên tâu thưa với vua thưa bệ hạ do bệ hạ có đôi mắt thần nên con quỷ tây dương không có nhập vào đôi mắt thần của bệ hạ được. Và nhân câu nói đó vua nói từ đây không có vấn đề gì nữa và đem cất đi.
Qua câu chuyện này chỉ là đồ chơi, và vấn đề ở đây là cô gái, ở Phương tây người ta nhìn nhận một cô gái vẻ đẹp thân thể của cô gái như một bông hoa, như một cây vươn lên ánh nắng mặt trời, nó là cái gì của thiên nhiên tạo ra, bông hoa trong trời đất sinh trưởng, quan niệm như vậy thì rất thoáng.
Phương đông lễ giáo phong kiến của nhà Nho coi khinh phụ nữ, sinh được mười đứa con gái coi như không sinh, sinh được một đứa con trai thì coi là sinh, và coi khinh phụ nữ từ ngay trong chữ viết (ví dụ chữ gian bằng ba chữ nữ), người ta coi việc sinh hoạt phòng the là điều cấm kỵ.
Quan trọng ở giao lưu văn hóa, tại sao đất nước ta có cái nhìn thoáng như vậy mà tại sao nước mình lại như vậy, vấn đề giao lưu kinh tế hàng hóa có tác dụng như vậy làm thông suốt người dân làm cho tư tưởng người ta thoáng và dường như những điều về đạo lý thánh hiền phong kiến không còn phù hợp nữa lạc hậu rồi.
Trong truyện Kiều của Nguyễn Du có bức tranh của cô Kiều đang tắm, người ta nói không phải ngẫu nhiên có những hình ảnh đó, mà đó là vẽ đẹp tự thân của người phụ nữ. Nếu như ngày xưa nói về vẽ đẹp của người phụ nữ là nói đến mắt, tóc, dáng vẻ bên ngoài chứ ít đi sâu vào hình thể, và đến giai đoạn này thì người ta nhìn ra nét đẹp từ hình thể và đó là một điều tự nhiên.
Trong thơ Hồ Xuân Hương có bức tranh của thiếu nữ ngủ ngày, họa sĩ vẽ thiếu nữ khỏa thân là muốn nói lên người họa sĩ đã vượt qua cái tham muốn thấp hèn, không chiếm hữu, người họa sĩ vẽ lên tranh làm cho người xem nhìn thấy cái đẹp của tạo hóa, cái đẹp thiên nhiên ban tặng cho nên những suy nghĩ đó khác. Vì vậy nó tạo nên một tầng lớp mới đó là tầng lớp thi dân, người dân ở tại các trung tâm buôn bán đó những tầng lớp thương dân, thị dân, họ có thể là người buôn bán, họ là người tri thức, là người theo học sách thánh hiền bây giờ họ tiếp thu được cái mới thấy được các thành tựu phương tây gợi mở không bó hẹp trong đạo đức phong kiến từ trước đến giờ đây là cái mới, thị dân là người đi đây đi đó tư tưởng của họ tự do phóng túng hơn là cuộc sống trước đây người nông dân bị trói buộc đủ thứ.
Chúng ta có thể kết luận đây là một trong những nhân tố mới góp phần làm thay đổi ý thức tư tưởng xã hội, kết hợp cùng với sự nổi dậy của nông dân, kết hợp với chiều xuống dốc của chế độ phong kiến, và tất nhiên một điều chúng ta phải nói tuy có nét mới như vậy nhưng chỉ là mới bắt đầu manh nha mà thôi chưa kết lại tầng lớp thị dân này thành tầng lớp tư sản và tiểu tư sản ở các nước phương tây để họ làm nên cuộc cách mạng tư sản lớn thay đổi bộ mặt xã hội.
2-Bi kịch thời đại:
Thông thường là tình huống éo le gây đau thương quá lớn cho một cá nhân nào đó không thoát được vấn đề đó.
Còn chúng ta hiểu bi kịch ở mức độ cao hơn ở Mỹ học Mac-Lenin là tình huống trong xã hội có hai lực lượng đối lập à lực lượng cũ và mới (1.tiêu biểu cho cái cũ, lạc hậu lỗi thời bị lịch sử lên án chờ cái khác đến thay thế; 2.tiêu biểu cho cái mới, cái tiến bộ cái tốt đẹp cái mà lịch sử đang chờ đợi.
Theo luật tiến hóa thì cái mới phải thay thế cái cũ, trong quá trình nó giao nhau đấu tranh loại trừ nhau lẽ ra cái mới phải chiến thắng nhưng cái cũ chiến thắng do vì cái mới mà còn quá yếu vì thế cái cũ chiến thắng cho nên gọi là bi kịch thời đại.
Ví dụ xét tính đại diện cho vua chúa thời bấy giờ như vua Lê-chúa Trịnh là cũ thậm chí Nguyễn cũng là cũ vì lập lại chế độ thời Lê-Trịnh; còn cái mới ở đây là Tây Sơn cái mới đem lại nhiều tư tưởng tiến bộ thế nhưng nó không tồn tại bao lâu lại rơi vào sức ép của nhà Nguyễn lực lượng cũ vì thế rơi vào tình trạng bi kịch của xã hội. Đến đầu TK 20 bắt đầu có tiến bộ ta thấy lực lượng mới giai cấp vô sản chiến thắng cái cũ.
3-Ý thức xã hội:
Những biến thiên cùng với những bi kịch lớn trong xã hội đã tác động mạnh đến tư tưởng con người ở đây nó thể hiện ở mối hoang mang cùng cực và cuộc phân hóa sâu sắc trong tầng lớp nho sĩ, bởi vì chúng ta thấy những người trí thức phong kiến họ học từ sách thánh hiền dạy họ “tam cương ngũ thường” họ học là họ phải tuân thủ một cách chặt chẽ, bề tôi phải trung thành với vua, là con thì hiếu thảo với cha mẹ, cũng như vợ hoàn toàn phải phục tùng chồng. Những điều họ học đó bây giờ cái mà thể hiện ra trước mắt không phải như vậy, và hơn nữa những điều tuân theo nguyên tắc ấy nó còn phù hợp hay không, một thời người ta nói rằng những cái từ trong “tam cương ngũ thường” người ta thấy vai trò của người dân họ chỉ đứng về một phía thôi, họ là một bề tôi trung với vua, con phải hiếu, vợ phục tùng chồng, tức là mỗi con người với vai trò của mình thì mình chỉ được phép là “tôi, con, vợ” là trách nhiệm một công dân trong đất nước là mình phải làm như vậy, như vậy thì là chính mình ở đâu, không có.
Ý thức xã hội dẫn người ta đến đâu, khi người ta vùng lên chống lại chế độ phong kiến tức là họ đã đấu tranh tìm lại cái quyền sống của mình, sự đi xuống, sự sụp đỗ của chế độ phong kiến , sự vùng dậy của người nông dân, sự phát triển của kinh tế hàng hóa là nhân tố làm thay đổi tư tưởng ý thức xã hội.
Đối với những người trí thức họ rất hoan mang bởi họ học một đường nhưng thực tế xảy ra khác với điều họ học, vì thế họ không biết làm thế nào như người đứng ở ngả 3 đường không biết đi hướng nào. Ta thấy từ sự phân hóa sâu sắc đó nó đưa về hướng khác nhau (1.theo phong trào đấu tranh tìm hướng đi của mình; 2.thái độ tìm về nguồn an ủi trong tư tưởng của Phật, Đạo, Nho..; 3.những người không đấu tranh không ở ẩn, không tìm nguồn an ủi, họ cố gắng giữ tâm trong sạch không quay lại với cuộc đời, trên cái học tập của họ có thể làm Thầy đồ, Thầy thuốc v.v.. và đa số các văn nghệ sĩ của chúng ta ở hướng này).
Tóm lại là “Tam cương ngũ thường” của Nho giáo đều bị sụp đổ một cách thảm hại. Xã hội thường xảy ra những cảnh tôi giết vua, con hại cha, tớ phản thầy, anh em giết hại lẫn nhau chỉ vì ngôi báu…ví dụ trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí có ghi tên Nguyễn Cảnh Thước đã cướp hết tư trang của vua Lê Chiêu Thống trên đường chạy sang Tàu, tên Đặng Mậu Lân bảo chúa là cái quái gì…trật tự đã thay đổi, lý tưởng tôn quân, nguyên tắc hàng đầu của đạo đức giáo lý phong kiến còn bị xúc phạm thì nói chi đến hiếu, tiết, nghĩa.
Những điều hoang mang ở lớp người trí thức phong kiến thời bấy giờ thể hiện qua thơ văn Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãng Ông) thể hiện băn khoăn day dứt chưa biết đi về đâu
“Tìm đường về Hán chưa xong
Sang Tần là việc đã không nên rồi
Bể hồ trôi dạt đôi nơi
Cho người tráng chí ra người cuồng ngông”
(Y Tông Tâm Lĩnh - Lê Hữu Trác)
Còn Nguyễn Du thì mang nặng trong tâm hồn nỗi uất ức bấn loạn:
Tráng sĩ bạc đầu đau xót ngẩn nhìn trời
Hoài bão cao xa cũng sinh kế đều mờ mịt
Cái thú lê mùa thu, khúc mùa xuân thành chuyện hảo
Mùa đông giá lạnh mùa hè oi bức
Lần lửa lạnh tiêu ma chí khí của tuổi trẻ.
(Tạp Thi – Nguyễn Du)
Hình ảnh “Tráng sĩ” là người trẻ khỏe, mà người trẻ khỏe đó lại bạc đầu như thế không còn thể hiện được sức mạnh, không còn thực hiện được cái chí tứ của mình cho nên thời gian đã trôi qua. “mùa đông …oi bức …tiêu ma chí khí của tuổi trẻ” cái mong muốn lớn nhất của thời thanh niên muốn dấn thân muốn cống hiến đã trôi qua.
“Nép mình giữa khoảng trời đất, thương nỗi bàn tay cô đơn
Ngoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vẫy vùng”
(Bệnh Trung - Cao Bá Quát)
Với Cao Bá Quát thấy được xấu xa của triều đình nhà Nguyễn nhưng bản thân ông muốn làm cái gì đó không làm được, người ta nói đông tay mới vỗ nên kêu, phải nhiều bàn tay mới vỗ thành tiếng, chí lớn của người muốn xả thân muốn giúp đời nhưng không có chỗ thực hiện.
“Ngước mắt nhìn dân khổ nhưng chẳng biết làm gì” của (Ngô Thế Lân), hiểu ra một điều như thế tại vì đâu dân khổ nhưng không làm gì được.
Với ý thức cá nhân mặc dù xuất hiện nhưng nó không hình thành nên chủ nghĩa mới là tư tưởng bước đầu không táo bạo như là ở phương Tây trước cuộc cách mạng tư sản, dẫu sao qua thơ thấy được nhân vật trữ tình, cái tôi của tác giả thể hiện trong tác phẩm thấy được tư cách của con người cá nhân, qua thơ Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, kể cả những nhân vật trong tác phẩm thấy được tư cách con người cá nhân.
Sự nổi dậy của nông dân và lối sống thoáng đạt của tầng lớp thị dân cùng với xu hướng tư tưởng đã nêu ở trên tác động mạnh đến thành lũy tôn nghiêm của lễ giáo phong kiến, nó phá vỡ hệ tư tưởng nho giáo phong kiến dấy lên luồng sinh khí mới trẻ trung lành mạnh, luồng sinh khí mới ấy chính là trào lưu của chủ nghĩa nhân đạo đối lập với “Tam cương ngũ thường” của Nho giáo phong kiến.
Ý thức xã hội phát sinh từ những điều kiện lịch sử nhất định, từ sự sụp đỗ của chế độ phong kiến, từ sự vùng dậy của người nông dân nhưng cũng phải kể đến sự đột phá mạnh mẽ ghê gớm của tầng lớp thị dân, nó đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi ý thức xã hội. Cho nên người ta nói những cái gì đã quen thuộc và nó đã thành công thức của xã hội phong kiến như là một nước nông nghiệp lạc hậu thì chỉ có hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau, lũy tre, bờ ao, nắm rơm, những con đường làng, những cái đó bây giờ nó đã đứng qua một bên trước những cái mới xuất hiện, kiểu làm ăn mới buôn bán, thành thị, phố sá mọc lên, văn minh nước người, cho nên ta thấy có sụ thay đổi lớn, có những tác phẩm đi ngược lại với lễ giáo phong kiến là ở điểm này./.
Câu 2: Chủ nghĩa nhân đạo bao gồm những vấn đề gì và thể hiện như thế nào trong văn học bao gồm văn học thế kỷ 18-19.
TL:
*Chủ nghĩa nhân đạo bao gồm những vấn đề sau:
Theo định nghĩa của nhà bác học người Nga: “chủ nghĩa nhân đạo là toàn bộ những quan điiểm đạo đức và chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên kỳ ảo, từ những nguyên lý ngoài đời của nhân loại, mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất với những khả năng, những nhu cầu của mình. Những khả năng, nhu cầu ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn”
Bàn về chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn chính là nhân đạo không phải siêu nhiên kỳ ảo nhấn mạnh bắt nguồn từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất, và những con người đó từ những khả năng nhu cầu trong cuộc sống của con người, những khả năng đó là những điều con người có thể sáng tạo ra, chủ nghĩa nhân đạo có thể đáp ứng cho họ và thỏa mãn cho họ, CNNĐ chính là nói về con người, những khả năng nhu cầu của con người phải được đáp ứng phải được thỏa mãn.
Văn học viết từ đầu thế kỷ 10 cho đến tận bây giờ vấn đề chủ nghĩa yêu nướcvà chủ nghĩa nhân đạo quan trọng chuyên chở xuyên suốt cần nhấn mạnh tùy lúc đận nhạt khác nhau, ví dụ ở giai đoạn đầu từ TK 10-15 chủ nghĩa yêu nước nhấn mạnh đậm hơn vì nước ta luôn đối phó giặc ngoại xâm cho nên văn học cũng phản ánh những vấn đề như thế , chủ nghĩa nhân đạo là cảnh đẹp quê hương, những anh hùng làm nên lịch sử nhưng cái này nó mờ so với chủ nghĩa yêu nước.
Từ thế kỷ 16,17,18 những cuộc chiến tranh xâm lược ngừng lại không lo đối phó với cuộc xâm lược lớn nữa, ở đây chuyển hướng nhìn về phía con người, con người trong cái chung là con người cộng đồng. Đặc biệt đến TK 18-19 này vấn đề con người được nhấn mạnh và chủ nghĩa nhân đạo nổi bậc ở giai đoạn này.
+Thời cộng đồng nó tồn tại dưới dạng tình thương và đoàn kết cộng đồng.
+Thế kỷ 10-15 vận mệnh dân tộc được đặt lên hàng đầu, chủ nghĩa nhân đạo cũng là việc chiến đấu xâm lược, chiến đấu giữ nước, ca ngợi phẩm chất con người về nhiều mặt trí tuệ, đạo đức, hoài bão, cho nên CNYN và CNNĐ đi song song tùy lúc đậm nhạt khác nhau.
Vấn đề thuộc về cá nhân con người, đời sống của con người ngoài việc ăn, uống, ngủ, nghĩ còn có yêu thương có sự kết hợp vợ chồng sinh con duy trì nòi gióng, chuyện gắn kết vợ chồng đó cũng là vấn đề CNNĐ đặt ra và đề cao, ở đây CNNĐ đặt ra quyền sống con người, con người được yêu thương được che chở, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ cần thiết.
CNNĐ thể hiện nhiều khía cạnh nhưng ở giai đoạn này có 3 vấn đề chính:
+Vạch trần cái thối nát, tham tàn vô luân của giai cấp thống trị,
+Bày tỏ lòng thương yêu con người, số phận những người không may, nhất là đối với phụ nữ bị áp chế nhiều mặt.
+Khẳng định con người – cá nhân như một thực thể tồn tại thực sự chống lại con người trong mối quan hệ phong kiến Nho giáo “Tôi, con, vợ”
*Chủ nghĩa nhân đạo thể hiện trong văn học TK 18-19:
Thể hiện tình yêu tự do qua bài thơ Nôm:
Lấy Chồng Chung của Hồ Xuân Hương
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố bám ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”
Tiếng chửi xuất phát từ người phụ nữ yếu đuối đập đỗ thành trì phong kiến, làm vợ như làm mướn không công.
Thể hiện hạnh phúc lứa đôi:
Tác phẩm Cung Oán Ngâm đây là tác phẩm nói về số phận của những người cung nữ
Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đây là tiếng lòng của người phụ nữ có chồng chinh chiến xa và tác phẩm nói lên nỗi niềm sự mong nhớ sự đợi chờ nỗi niềm trăn trở từ sự chờ đợi đó và khát khao được sống hạnh phúc.
“Cùng trông lại cùng chẳng thấy…xanh xanh…”
Trong Truyện Kiều không đợi lệnh mẹ cha, tự ý thề nguyền đính ước với chàng Kim Trọng, ban ngày nhân lúc cha mẹ đi vắng cả nhà không có ai, cô đã sang tình tự cùng với Kim Trọng, Kiều đã vượt qua lễ giáo phong kiến (nói vượt nhưng chưa vượt), Thúy Kiều yêu rất mãnh liệt nhưng cô đã biết dừng đúng lúc vì vậy tình yêu đẹp. “Gót sen thoăn thoát dạo ngay mái đường”
Cúc Hoa trong Phạm Công Cúc Hoa, Cúc Hoa học rất giỏi đem lòng yêu thương Phạm Công hiếu học hiếu thảo, chuyện tình yêu xuất phát rất tự do không qua mai mối./.
Câu 4:Phân tích đọan thơ trong Chinh Phụ Ngâm
TL:
Thế kỷ 18 truyện thơ Nôm tiêu biểu như Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn là một trong những tác phẩm mở đầu cho một giai đoạn văn học mới với những cảm hứng mới về con người đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội.
Đây là thời kỳ loạn lạc với hai cuộc chiến tranh Lê-Mạc và Trịnh – Nguyễn, Chinh Phụ Ngâm là nỗi nhớ thương, khát khao hạnh phúc lứa đôi của một nữ quý tộc trẻ có chồng ra trận.
“Nhủ rồi tay lại trao liền, bước đi một bước lại vin áo chàng”
dịch từ câu chữ Hán
“Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ. Bộ nhất bộ hề phan quân nhu”
Nàng nói gì đó một vài lời nói rồi lại lập lại, níu lấy tay áo của chàng, bước một bước lại trở lại nắm lấy tay chàng, ở đây nói đến tâm tình của người chinh phụ không dứt ra được, tâm trạng nói bằng đôi tay quyến luyến bằng đôi chân không muốn bước bằng đôi mắt không muốn rời, cử chỉ hành động của nàng cho thấy cái tình ở chỗ đó.
“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi, dạ chàng xa ngoài cõi thiên thai”
Lòng thiếp theo chàng tựa như trăng sáng cứ mãi theo chàng, chàng hình như không có bịn rịn không quyến luyến dạ chàng để hết ở ngoài chiến trận, có ý trách móc.
“Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang”
Cũng như Victor Hygo đã từng nói: đối với người già thì chết nghĩa là đi và ngược lại đối với người trẻ thì đi có nghĩa là chết, đi là biệt ly, cái nỗi niềm này nó ghê gớm lắm, đó là cái nỗi niềm này khó nói tường tận chỉ có cảm được thôi.
Và “có đau khổ nào bằng trong đắng cay nhớ về hạnh phúc” trong hoàn cảnh lẻ loi chỉ có một mình vắng bóng người thương thì chinh phụ đang ở trong tâm trạng này ở trong đau khổ lại nhớ về hạnh phúc cho nên càng đau khổ hơn gấp bội.
“Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Người chinh phụ ở đây, chinh phu đã đi xa rồi và giữa họ là cây Hàm Dương là Bến Tiêu Tương, giữa họ là cả một không gian chia cắt, và cũng không gian ấy vẽ ra làm cho người ta có cảm giác người phụ nữ nhỏ nhoi, rất là tội nghiệp nàng như lọt tỏm vào không gian bao la khung trời với màu xanh của núi, của mây, của ngàn dâu dường như bao vây lấy người chinh phụ. Vẽ ra một viễn cảnh không có điều tốt đẹp về sau, đây là một dự báo về điều không may không tốt đẹp không đoạn trùng phùng, trong suốt đoạn dài của tác phẩm là người chinh phụ sống trong nhớ nhung chờ đợi mỏi mòn không có sum họp, và khoảng không gian ấy nói lên sự cô độc và người chinh phụ không làm gì để thoát ra viễn cảnh như thế. “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy” ở đây người chinh phụ nói cùng trông lại, tâm tình người chinh phụ cố trông theo và cũng muốn chinh phu trông lại
Thông qua hình ảnh của người chinh phu ta có thể hiểu hơn về xã hội phong kiến đương thời. Trong hoàn cảnh xã hội loạn lạc ấy tình yêu đôi lứa bị ngăn cách, chiến tranh phong kiến không có chỗ nào dung hợp với con người, chiến tranh phong kiến đối lập với con người, những con người trẻ tuổi tràn ngập lí tưởng giúp đời, giúp người, nhưng cuối cùng vẫn đi đến nỗi buồn thương. Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh chiến tranh, kết thúc bằng nỗi nhớ thương khôn nguôi của người chinh phụ, đưa lại cho người đọc những cảm xúc buồn. Liệu rằng chiến tranh đến bao giờ mới chấm dứt và người chinh phu đến bao giờ mới đoàn viên, để người vợ trẻ không còn những đêm dài cô đơn mong ngóng.
Câu 3:Hình ảnh người phụ nữ thể hiện trong văn học
TL:
Hình ảnh người phụ nữ trong văn học tiêu biểu qua hình ảnh Chinh Phụ trong Chinh Phụ Ngâm biểu trưng cho những người phụ nữ chìm ngập trong cảnh chờ đợi héo hon và khát khao được sống hạnh phúc.
(25/4/2013 – Hoa Thiện)
|