|
VĂN HỌC DÂN GIAN (tt)
(15/9/2012 – Hoa Thiện)
Câu 1,2,3, trên hoalinhthoai.com
Câu 4: Nghệ thuật Câu đố(08/09/2012 – lost FGA).
Nghệ thuật câu đố:
1.Giống tục ngữ:
Giống tục ngữ về sự ngắn ngọn sự cân đối nhịp nhàng có vần có điệu, vì vậy cũng xếp vào loại văn vần.
Ví dụ: Mẹ gai góc con trọc đầu cây bưởi
Đi phe phẩy về nhà dẩy ra mà chết áo dài.
-Câu đố đa số nhiều hơn một vần dạng thơ.
2.So sánh:
Bắt đầu bằng các từ bằng…, vừa bằng.
Ví dụ “Bằng…”: Bằng cái vun vùng xuống ao mặt trăng
Đào chẳng thấy lấy chẳng được
Ví dụ: “Vừa bằng” Vừa bằng hột lạt con ốc.
3.Nhân hóa:
Thường sử dụng từ xưng hô dành cho con người.
Ví dụ: Ông già mặc áo đỏ
Thằng nhỏ mặt áo xanh
-Người lao động nhân gian còn sử dụng trí tuệ gán cho sự vật, sự vật cũng biết cảm xúc cho con người vậy.
Ví dụ: Mong sao cho chúa tôi giàu con dán, nghệ thuật nhân hóa ở đây
Để tôi lấy mở lấy dầu tôi ăn. Làm cho con vật cũng biết mong ước.
Ví dụ: Mong sao cho chúa tôi hoang con nhệnh.
Để tôi mắc võng nghênh ngang suốt ngày
Ví dụ: Tự nhiên cắt cổ đem chôn khoai lang
Bữa sau sống lại đẻ con từng bầy.
4.Nghệ thuật nói láy:
Ví dụ: Khi đi cưa ngọn con ngựa.
Khi về cũng cưa ngọn
Ví dụ: Vừa đi vừa lủi vừa mổ lỗ mũi.
Ví dụ: Cái gì đục rồi cất, cất rồi đục cục đất.
Ví dụ: Bằng trang điếu thuốc ngón tay.
Ngủ ngày nó ngáy ton ton
Ví dụ: Bằng cha bằng chả bằng chà bà chằng.
Con nít nghe nói sợ đà thất thanh
Ví dụ: Khoang đầu khoang cổ khoang lai
Bò la bò liệt …..
Ví dụ: Ông đánh cái chen bà biểu đừng là chân đèn.
+Từ đồng âm khác nghĩa:
Ví dụ: Thui thủi như con bò thui đồng âm là 9 (sống, chín, số 9)
9 đầu 9 mắt 9 tay 9 mình gải đáp là con bò thui.
Ví dụ: Một họ chia làm ba phe cây mây
Phe này giúp nước phe kia giúp nhà mây trên trời
Một phe làm hại người ta mây ở mắt
Từ đồng âm không xuất hiện trên từ ngữ mà hiện ra ở đáp án.
+Từ đồng âm phản nghĩa:
Ví dụ: Ngã lưng cho thế gian nhờ
Vừa êm vừa ấm lại vừa bất trung.
+Chơi chữ:
Rất đa dạng có nhiều cách thức khác nhau.
Ví dụ: Nửa làm mức, nửa nấu canh. bí.
Đêm khi mất sắc theo anh học trò. Viên bi, hòn bi.
Ví dụ: Đầu bò mà gắn đuôi heo chơi chữ.
Ai mà thấy nó lăn queo tức thì
Miêu tả con vật hung dữ con heo, cách tách từ ghép từ.
Ví dụ: Con dê ăn cỏ bờ ao cây dao.
Ví dụ: Ví dầu cầu ván đóng đinh đố về một loại bánh, bánh lọt.
Cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi
Ví dụ: Núi kia ai đắp mà cao bánh hỏi.
Sông kia ai vét ai đào mà sâu.
Ví dụ: Cô kia ngồi tựa lăng phòng câu hỏi, bánh hỏi.
Tóc mây dợn sóng có chồng hay chưa
Ví dụ: Nhớ em lệ chảy bùi ngùi bánh ướt.
Khăn lau không ráo áo chùi không khô
+Nghệ thuật bỏ lửng:
Miêu tả lơ lơ lửng lửng nó nhập nhằn khó đoán cho người nghe gây sự mâu thuẫn.
Ví dụ: Cây gì càng kéo càng ngắn điếu thuốc
Cái gì càng to càng nhỏ con cua.
Cái gì càng nặn càng nhẹ kem đánh răng.
Ví dụ: Đi ra gặp phải nó
Bắt được thì để đó cái gai đạp trúng.
Không bắt được thì đem về
Kết luận:
Câu đố sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau tạo nên sự bất ngờ dí dỏm hóm hỉnh.
Câu đố cho thấy óc thông minh, trí tưởng tượng phong phú của người xưa, mỗi câu đố có một dáng vẻ riêng không trùng lập, như vậy cũng có thể nói mỗi câu đố là một sáng tạo bất ngờ.
Nhìn tổng thể toàn bộ câu đố Việt Nam ta thấy được….
Sự quan sát của họ về đời sống hiện tượng rất tinh tế, họ thông minh sáng tạo./.
Câu 5:Nội dung của Ca dao
Nội Dung Ca Dao – Dân Ca trữ tình
1.Tình yêu quê hương đất nước
-Tình yêu đối với thiên nhiên điều này rất dễ cảm nhận thể hiện trong tất cả cuộc hát đối đáp với nhau, đây là nội dung rất nổi bậc trong ca dao. Và người nông dân ngày xưa có điều kiện tiếp xúc rất nhiều với thiên nhiên, môi trường họ làm việc là thiên nhiên cho nên thiên nhiên đó đi vào trong lời ca tiếng hát rất là bình thường.
-Thiên nhiên trong ca dao luôn được cảm nhận phản ánh theo phương thức trữ tình, có nghĩa là tất cả đều được nhìn nhận qua lăng kính tình cảm yêu mến tự hào, khi miêu tả trai thanh gái lịch, món ngon, dù cho tả bất kỳ cảnh nào thì cũng hướng đến tình cảm con người.
“Đường vô xứ Nghệ (Huế) quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
“Đồng Đăng có phố kỳ lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh…”
Tình yêu sản vật món ngon của địa phương, vùng có sản vật ngon, người dân rất tự hào, khi hát người ta đưa những tự hào loại sản vật vào.
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về” thơ.
“Bến Tre giàu mía mỏ cày
Giàu nghêu thạnh phú
Giàu xoài Cái Mơn
Bến Tre biển cá sông tôm
Ba Tri muối mặn Giòng Trôm lúa vàng”
Đọc qua 4 câu hình như dân gian đang liệt kê giàu cái này giàu cái kia tự hào dân tộc mình.
“Ăn bưởi thì hãy đến đây
Đến mùa bưởi chính vàng cây trĩu cành
Ngọt hơn quýt mật cam sành
Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn.”
a.Niềm tự hào đối với lịch sử:
Có nhiều câu ca dao tỏ lòng biết ơn đối với vị anh hùng của dân tộc.
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh còng.”
Những câu hát về Trương Định
“Gò Công anh dũng tuyệt vời
Ông Trương đánh lá tối trời đánh Tây”
Hỏi:
“Bà chi dẹp giặc kháng Ngô
Nữ nhi muốn hỏi anh phô cho tường”
Đáp:
“Bà Trưng bà Triệu kháng Ngô
Nữ nhi tô rạng hồng đồ nước nam”
Thời hiện đại ca ngợi hình ảnh người lính, ca ngợi về Hồ Chủ Tịch
“Đèo cao trăm thước đèo cao
Công Hồ Chủ Tịch còn cao hơn đèo”
“Ơn cụ Hồ sâu như Nam hải
Công cụ Hồ bằng dãi Trường sơ.”
b.Tình yêu đối với những người dân lao động bình thường
Gái khôn trai tài, gái đảm trai hiền.
“Đèn nào cao bằng đèn Cao Lảnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”
2.Tình yêu lứa đôi
Đề tài này rất phong phú rất lớn, ca dao về tình yêu lứa đôi nhìn chung có thể chia thành 4 tiểu loại sau, tiêu chí phân chia là những giai đoạn trong cuộc tình.
a.Ca dao tỏ tình
b.Ca dao tương tư
c.Ca dao thề nguyền
d.Ca dao hận tình.
a.Ca dao tỏ tình:
Những bài ca dao này nổi bậc ở tình chất lý tưởng hóa ở sự lãng mạn, người hát thường lạc quan yêu đời, nhìn đời bằng đôi mắt màu hồng (cuộc tình mới bắt đầu)
Hỏi:
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”
Đáp:
“Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng.”
Câu đối qua đáp lại nói bóng gió, không cụ thể, có khi tỏ bày tình cảm rất lãng mạn.
“Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”
Cũng có trường hợp nói thẳng, tình cảm mộc mạc:
“Cơm sôi lửa cháy gạo nhảy tưng bừng
Anh thương em như lửa nọ cháy phừng
Dù cho lở núi tan rừng cũng thương.”
Phần nhiều phong cách những bài thơ tỏ tình của người miền Bắc khác với người miền Nam.
-Ca dao tỏ tình miền Bắc: rất bóng bảy trau chuốt ngôn ngữ.
-Ca dao miền Trung và miền Nam: có vẻ sôi nổi, giàu chất sống hơn, nói trực tiếp, nói thẳng không vòng vo.
Ca dao Tỏ tình miền Nam:
“Anh thương em thương lúng thương lủng
Thương lột da óc thương tróc da đầu
Ngủ đi thì nhớ thức dậy thì thương
Thương sao thương quá bất nhơn
Bữa nay gặp lại thương hơn bữa nào.”
Phong cách không phải văn chương nhưng lời lẻ chân chất của người nông dân chính vì vậy đi vào trái tim nhanh nhất.
b.Ca Dao Tương tư:
Tập trung nói về nhớ thương, giận hờn, trách móc không gặp được nhau.
Nhà thơ Hoài Thanh người phê bình văn học nổi tiếng thời 30-45, ông đã khẳng định đây là bài ca dao hay nhất của Văn học dân gian:
“Khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo tiền
Lo vì một nỗi không yên một bề”
“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”
Cái hay đặc sắc thú vị nhiều nhiều nhất ở Ca dao là cái mà giác quan không nhìn thấy được, thế giới tình cảm bên trong con người khó định hình nhưng ca dao đã làm được điều đó.
Ví dụ một người bình thường nhớ người yêu thì nói là nhớ quá
“Thương ai rồi lại nhớ ai
Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng.”
Nhà thơ Xuân Diệu đã khen người nông dân ngày xưa đã so sánh rất độc đáo như vậy.
c.Ca dao Thề nguyền:
Những bài này thể hiện lời thề thốt của đôi bên nhằm bộc lộ ý chí nghị lực quyết tâm vượt qua mọi thử thách để đến với tình yêu.
“Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.”
Dị bản khác thay thế bằng con số:
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thất bát sông cũng lội
Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua.”
Tứ cửu là 4 lần 9 là 36 đèo
“Thân em như con cá rô thia lắp vũng chân trâu
Ba bảy hai mốt cần câu châu vào.”
Khi người ta thề nguyền với nhau người ta hay lấy cảnh tự nhiên để thề nguyền như: trăng, núi, biển, rừng…mượn những nhân chứng như vậy để tạo thêm sức mạnh cho lời thề.
“Khi nào cho vượn lìa cây cho chim lìa tổ
Thiếp họa may lìa chàng”
“Chừng nào muối ngọt chanh thanh
Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng”
“Chừng nào cho ngựa rời cương
Em đây mới hết nhớ thương yêu chàng”
“Chừng nào núi Bụt hết cây
Lại Giang hết nước dạ này hết thương”
d.Ca dao Hận tình:
Tuy là yêu thương thắm thiết, thề nguyền dữ dội nhưng cũng có những cuộc tình không có kết thúc tốt đẹp nên sinh ra hình thành những bài thở than, trách móc, hận tình.
“Thấy anh như thấy mặt trời
Chói chan chói lóa khó ngó trao lời khó trao.”
“Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn.”
“Đến gần em như vàng chính nén
Được gặp em rồi như uống chen thuốc tiên.”
“Cổ tay em trắng như ngà
Mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”
Ca dao Kết hôn rồi:
“Chồng con là cái nợ nần
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mập.”
Ca dao Hận tình:
“Chồng gì anh vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời mà thôi.”
-Đôi lứa không đến được với nhau vì vậy trách móc, khổ đau oán hận, đay nghiến nhau, trách trời, trách ông tơ bà nguyệt, trách ông mai bà mối, trách rất nhiều thứ, trách người, trách ai, tiếc công, bên cạnh hát rồi còn thở than tiếc núi.
Đặc biệt là những chàng trai thường hay tiếc công vì bỏ nhiều công sức để theo đuổi cô gái.
“Tiếc công anh đắp đập be bờ
Để ai quẩy đó mang lờ đến đơm”
“Tiếc công anh đan giỏ bỏ cà
Giỏ thưa cà lọt công đà uổng công”
“Tiếc công rầy xuống mai lên
Mòn đường nát cỏ chẳng nên trò gì”
3.Tình cảm gia đình:
a.Những câu hát tình nghĩa nhiều nhất là tình vợ chồng, thường là những câu vợ nói với chồng.
“Rau tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.”
“Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông lý nấu chè hạt sen”
-Phần nhiều tình cảm thể hiện trong ca dao là nghèo khổ khó khăn vì vậy càng mặn nồng hơn.
-Tình cảm của cha mẹ đối với con thể hiện sự chăm sóc, sự yêu thương, sự nuôi dưỡng không quản ngại khó khăn.
-Con đối với cha mẹ biết ơn kính trọng, hiếu để chăm sóc phụng dưỡng khi cha mẹ về già.
“Mẹ già như chuối chính cây
Gió lay mẹ rụng con rầy mồ côi.”
“Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.”
“Mẹ già ở túp liều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.”
“Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau.”
*Tình cảm con đối với cha mẹ còn thể hiện ở những đứa con gái lấy chồng xa quê cảm thấy nhớ thương cha mẹ.
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chính chiều.”
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chính chiều ruột đau.”
“Chiều chiều ra đứng bến sông
Muốn về quê mẹ mà không có đò.”
Thời gian, không gian buổi chiều bắt đầu trong quá khứ kéo dài đến hiện tại, nghe rất buồn, rất hợp để diễn tả nhớ thương.
b.Những câu hát than thân và phản kháng của người phụ nữ
*Than thân của người phụ nữ:
-Than về chồng con, chồng vũ phu, chồng chè chén say xưa tối ngày.
“Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng ăn nhậu như voi phá nhà.”
-Người phụ nữ hay so sánh khi còn ở với cha mẹ và đến khi đi lấy chồng.
“Khi xưa ở với mẹ cha
Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành
Từ ngày về ở với anh
Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi
Đất xấu nặn chẳng nên nồi
Anh về lấy vợ để tôi đi lấy chồng.”
*Thở than hôn nhân bị ép buộc:
-Hôn nhân ép buộc, hôn nhân bị mua bán, hôn nhân tảo hôn, hôn nhân do mai mối.
“Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng nghĩ ông láng giềng.”
Và nhiều bài nữa bắt đầu bằng công thức: “Thân em như…;thân anh như..”
-Người phụ nữ dùng để so sánh thân phận của mình.
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài cát hạt ra ruộng cày.”
“Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa nắng đi về chùi chân.”
Rất là xót xa thân phận của người phụ nữ.
“Thân em như cái sập vàng
Thân anh như manh chiếu rách nhà hàng bỏ quên
Lạy trời cho cả gió lên
Cho manh chiếu rách nằm trên sập vàng.”
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.”
Người phụ nữ tự nhận thấy vị trí của mình chỉ ở chừng đó mà thôi, rất là xót xa rất là buồn.
-So sánh địch và ta:
“Vợ là địch bồ là ta
Chiến sự xảy ra ta về với địch
Nằm trong lòng địch ta nhớ về ta.”
c.Các mối quan hệ xã hội khác (đọc giáo trình).
-Những bài nói về người nông dân, về sự nghèo khổ, những nỗi niềm của người nông dân trong xã hội cũ, không đủ ăn, không đủ mặc, sự bất hạnh, bị áp bức bóc lột.
-Người lính và người vợ lính, khi có chiến tranh xảy ra những người lính phải gia nhập hàng ngũ (người lính thở than trong cuộc chiến tranh phi nghĩa) những tập đoàn phong kiến những phe nhóm đấu đá với nhau, người nông dân bị bắt ra trận để chiến đấu đem lại quyền lợi cho tập đoàn thống trị nào đó thôi, người lính khổ thì vợ lính cũng rất khổ.
“Thùng thùng trống đánh rủ đi
Bước chân ra trận nước mắt như mưa”
-Ca dao trào phúng dùng tiếng cười phê phán cái chưa hay, chưa tốt, chưa đẹp trong xã hội, những cái xấu trong nội bộ nhân dân lao động, những cái xấu ở tầng lớp trên vua chúa, quan lại, cô gái hay ăn quà, cô gái hay đểnh đoản, chàng trai tham ăn, chàng trai uống rượu, những bài nói về người tu không thật lòng tu mượn của chùa làm việc sai trái khác, những bà già đi xem bói lấy chồng
“Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói xem quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.”./.
Câu 6: Cái hay cái đẹp trong Ca dao (biểu hiện về nội dung, diễn xướng của ca dao).
1.Các hình thức diễn xướng của ca dao – dân ca trữ tình:
Nói, Kể, Hát, và Diễn.
-Ca dao – dân ca trữ tình diễn xướng chủ yếu dùng hình thức hát.
-Các hình thức diễn xướng của CD-DC trữ tình rất phong phú vì nó thâm nhập vào mọi sinh hoạt của đời sống xã hội và thu hút rất nhiều người tham gia.
Các hình thức diễn xướng: Hát đối đáp lẻ.
Hát đối đáp trong cuộc.
+Hát đối đáp lẻ: mang tính tự do
Là hát ngẫu hứng, tự do, hát sao thì hát, đây là hình thức hát tự do, thời điểm tự do, địa điểm hát tự do, nội dung hát tự do, hát bất cứ cái gì, hát lâu hay mau tùy hai người hay hai nhóm người.
Áo vá vai vợ ai không biết
Áo vá quàng chí quyết vợ anh
Đáp: Áo vá vai vợ ông cai ông đội
Áo vá quàng bà nội của anh.
Ví dụ: Cô kia xách giỏ đi chơi
Cho tôi gởi trầu cô xách dùm tôi.
Đáp: Trầu anh trầu đắng trầu nồng
Em không dám nhận sợ chồng em ghen.
Phân biệt câu nào của nam hay nữ:
Nữ: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Em có chồng rồi trả yếm lại cho anh
Nam: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh.
Yếm em em mặc yếm gì anh anh đòi.
+Hát đối đáp trong cuộc:đây là hình thức trái ngược hoàn toàn với hát đối đáp lẻ, qui định rất chặt chẽ, mang tính chất quy mô hơn thường diễn ra theo nhiều giai đoạn (mô phỏng theo cuộc tình thông thường), chia làm 3 giai đoạn (1.Hát đố-hát họa; 2.Hát xe kết; 3.hát thề, hát dặn, hát tiễn).
Thời gian định trước hát vào lúc nào.
-Bắc Ninh hát ở hội, hát vào lúc nào.
-Hát phường nón, phường vải.
Địa điểm cũng được ấn định trước.
-Bắc Ninh: hát trong nhà, hát trên thuyền hay trên đồi.
Nội dung hát: hát gì cũng có sự sắp xếp trước phần nhiều nói về tình yêu nói chung.
Độ dài cuộc hát diễn ra bao lâu
Ví dụ hát phường vải diễn ra cả một buổi tối có những cuộc hát như quan họ Bắc Ninh hát có thể vài ngày.
Giai đoạn 1 Hát chào, hát thăm:
Hát chào hát thăm mang tính chất xã giao gọi tên là hát đối đáp nam nữ, có thể cùng làng hay khác làng, hay một nhóm nam và một nhóm nữ tìm hiểu thông tin để hiểu biết về nhau để đi vào cuộc hát chính thức.
+Hỏi về quê quán:
-Hỏi chàng quê quán nơi đâu, mà chàng thả lưỡi buôn câu chốn này.
+Hỏi tên:
-Hỏi anh tên họ là chi nói cho em biết mai đi em chào.
(câu trả lời đúng sự thật xl)
+Hỏi vợ chồng:
-Anh đà có vợ con chưa mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào, vậy nhà anh ở nơi nào để em bước vào hầu hạ thay anh.
+Hỏi tuổi:
Đố:
Trăng lên khỏi núi trăng tròn
Xuân xanh em mấy mà giòn rứa em
Đáp:
Trăng lên khỏi núi trăng cao
Xuân xanh đôi tám đang ước ao duyên tình.
Ví dụ bên nam chào bên nữ
“Tôi chào cô Hai như bông mai mới nở
Tôi chào cô Ba như hạt đổ đầu non
Tôi chào cô Bốn như hòn non bộ
Tôi chào cô Năm như một ổ vàng chôn
Tôi chào cô Sáu như bức môn treo hàng vách
Tôi chào cô bảy như quyển sách chạm bìa vàng
Tôi chào cô Tám như hai hàng khai cẩn
Tôi chào cô Chính như rồng ẩn mây xanh
Tôi chào cô Mười như nhành hoa liễu
Hình dung yểu điệu ăn nói tươi cười
Tôi chào cô Hai cho chí cô Mười
Chào chung một tiếng mỗi người một câu.”
“Chào cô Hai như sao mai rạng mọc
Chào cô Ba như hạt ngọc lung linh
Chào cô Tư như thủy tinh trong vắt
Chào cô Năm như thơm ngát bông lan
Chào cô Sáu như hào quang óng ánh
Chào cô Bảy như cuốn sách chạm bìa vàng
Chào cô Tám như hai hàng liển cẩn
Chào cô Chính như hợp cẩn Hà Tiên
Chào cô Mười như chim Uyên uốn lưỡi trên nhành
Chào rồi tôi tôi chụp hỏi rành rành
Hỏi căn cơ hà xứ phụ mẫu cũng huynh đệ hiểu đa
Hỏi cho biết cửa biết nhà
Nhờ ông mai tới nói để giao hòa với một cô.”
Ví dụ bên nữ chào bên nam
“Em chào anh Hai như chim bay không mỏi cánh
Em chào anh Ba như ánh nắng mặt trời vàng
Em chào anh Tư như vườn cam giữa biển
Em chào anh Năm như cây kiển gặp mùa xuân
Em chào anh Sáu như gương trầm đốt sáng
Em chào anh Bảy như vừa thủy chung vừa tài cán như Phạm Công
Em chào anh Tám như Triệu Tử Long giết giặc
Em cháo anh Chính như Thạch Sanh diệt quỷ ác cứu người
“Chào người áo trắng áo đen
Chào người áo tím cười duyên nửa chừng
Chào cô bận áo vá quàng
Thương cô áo rách vá chồng vải thô.”
“Anh chào bên nam thì mất lòng bên nữ
Anh chào quân tử thì bỏ bụng thuyền quyên
Cho anh chào chung một tiếng chứ chào riêng khó chào.”
Tóm lại: hát chào, hát thăm hình thành đầu tiên mang tính chất xã giao.
Hát đố- hát họa, hát xe kết, hát xe kết là giai đoạn chính.
+Hát đố-hát họa: thử tài cao thấp, có biết lịch sử, văn chương hay không.
+Hát xe kết: là giai đoạn chủ yếu sau khi thử tài đố rồi bắt đầu hát xe kết (hạnh phúc thành tựu, tách móc không lấy được nhau …).
Hát đố - hát họa:
Đôi bên đã làm quen với nhau rồi bước vào hát đố, hát họa (đố họa về hoa-quả, mưa-nắng, núi-sông, lịch sử, văn chương, địa lý …)
Hát xe kết:
Tỏ bày tình cảm yêu thương mong ước trở thành chồng vợ…, có những cuộc hát đố tranh tài nhau rất kịch tính cho nên xuất hiện thầy gà, bên nam hay bên nữ khi đi hát đều dắt theo thầy gà để làm trọng tài, cuộc đối đáp như vậy thì tính chất văn nghệ nó giảm đi.
Đố:
“Đố anh chi sắc hơn dao
Chi sâu hơn biển
Chi cao hơn trời”
Đáp:
“Em ơi mắt sắc hơn dao
Bụng sâu hơn biển
Trán cao hơn trời”
Đố về Địa lý:
Đố:
“Em đố anh sông nào là sông sâu nhất
Núi nào là núi cao nhất nước ta
Anh mà giảng được cho ra
Thì em kết nghĩa giao hào cùng anh”.
Đáp: lịch sử
“Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”
Đố địa lý sông –núi:
Đố:
“Sông gì chính khúc rồng bơi
Núi gì ba đỉnh cao vời bằng mây”
Đáp:
“Cửu Long chính khúc em ơi
Ba Vì sừng sửng cao vời bằng mây”.
Đố:
“Đố anh đi học không thầy
Làm bài không bút gái này theo không”
Đáp:
“Em về dệt cưỡi không gon
Đưa thoi thông suốt anh cho lạng vàng”
Đố:
“Đến đi hỏi khách tương phùng
Chim chi một cánh dạo cùng nước non”
Đáp:
“Tương phùng nhắn với tương tri
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”.
Đố:
“Nghe tin chàng học thú Y
Con chi có răng không lưỡi
Con chi đó chàng”
Đáp:
“Có răng không lưỡi cái bừa
Vì nhà nông sớm trưa ngoài đồng.”
Đố:
“Thấy anh hay chữ em đây hỏi thử đôi điều
Đường từ Châu Đốc Hà Tiên kênh nào chạy thẳng nối liền hai nơi
Đất nào lắm dốc nhiều đồi, đèn nào cao nhất tiếng đời đều nghe
Sông nào tấp nập thuyền bè, hồ nào với biển cặp kè bên nhau
Trai nào nổi tiếng anh hào, anh mà đáp đặn má đào em trao”
Đáp:
“Nghe em hỏi tức anh đây đáp phức cho rồi
Đường từ Châu Đốc Hà Tiên có kênh Vĩnh Tế nối liền hai nơi
Đất nam Van lắm dốc nhiều đồi.
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe
Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè
Biển Hồ hai chữ cặp kè bên nhau
Trai Nam Việt nổi tiếng anh kiệt
Anh đà đáp đặn má đào em trao đi”
“Trai nào hay cho bằng trai Cao Lãnh
Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân”.
Hò Nam Bộ: hò chèo ghe, hò cấy lúa, hò giã gạo
Đố:
“Vậy chứ thiếp hỏi chàng
Quân sư phụ mẫu, phu thê mới ngồi chung lại một thuyền
Chớ chẳng may thuyền đắm
Thiếp xin hỏi chàng chàng vớt ai.”
Đáp:
“Anh đứng giữa trời anh xin đáp chẳng sai
Chớ quân sư anh vớt để trên đầu
Còn phụ mẫu anh để hai vai
Bớ hiền thê ơi lại đây cho anh cõng
Còn hai tay anh vớt thuyền.”
Đố:
“Nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời
Vậy chứ trong các thứ dầu dầu chi là dầu không thắp
Trong các thứ bắp bắp chi là bắp không rang
Trong các thứ than than chi là than không quạt
Trong các thứ bạc bạc chi là bạc không đổi không mua
Anh mà đối đặn mới biết ai thua phen này.”
Đáp:
“Trong các thứ dầu có nắng dãi mưa dầu là dầu không thắp
Trong các thứ bắp có bắp giò bắp cẳng là bắp không luột không rang
Trong các thứ than có than hỡi than hời là than không quạt
Trong các thứ bạc có bạc tình bạc ngải là bạc không mua
Anh đà đối đặn em tính ai thua phen này.”
Đố:
“Em nghe anh học ngoài trào
Chị dâu té giếng níu chổ nào kéo lên.”
Đáp:
“Anh nắm đầu thì sợ tội, nắm tay thì lỗi đạo tam can
Dậm chân kêu bớ ông trời vàng
Cho hai con rồng bạch xuống cứu nàng chị dâu”
Câu hát đố rất thú vị ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam đều có tùy theo đặc điểm địa phương mà có câu hát đố.
Hát Họa: phổ biến ở miền Bắc.
Hát họa là gì?
Hát họa là bên nam ra 1 đề tài, ví dụ đề bên nữ hát về mưa, đa số bài hát họa là những bài đã thuộc đã xuất phát từ các cuộc hát trước đó
Loại hát này ở miền Trung và miền Nam không có phổ biến.
Ví dụ hát họa về hoa, mưa-nắng; núi-sông; trời-đất; hoa-quả
Đòi hỏi người hát có kiến thức phong phú đặt câu gieo vần làm sao thành bài hát.
“Hoa mơ hoa mận hoa đào
Kìa bông hoa cúc biết vào tay ai
Xin chàng nên thắm chớ phai
Thoan thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu
Xin chàng đừng phụ hoa ngâu
Tham nơi phú quý đi cầu mẫu đơn…”
Hát họa về mưa:
“Hạt mưa chính ở trên trời
Mưa xuống hạ giới là nơi cõi trần
Tháng giêng là tiết mưa xuân
Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra
Tháng ba là tiết mưa sa
Tháng tư sấm đậm lại ra mưa rào
Tháng năm mưa trận
Tháng sáu mưa cơ
Tháng bảy rập rờn là tiết mưa ngâu.”
Khi hết một bài hát họa thì có câu kết thúc.
Giai đoạn 2 Hát xe kết (tỏ bày tình cảm):
Hát xe kết có tiếng cười và nước mắt, ví dụ tỏ bày tình cảm yêu thương gắn bó, đây là một giai đoạn có tổ chức sắp xếp trước hát chào, hát họa rồi đến hát xe kết, là trò vui văn nghệ hoăc có khi thật lòng tỏ tình với ai đó..
“Anh say em như bướm say hoa
Như Lưu Linh say rượu Bá Nha say cầm”.
“Bắt thang hái ngọn trầu hương
Đó thương ta một ta thương đó mười”
Tình cảm ở giai đoạn hát xe kết này rất phong phú có thể là thề thốt, nhớ nhung, than khóc, có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.
“Thương nhau ở dưới góc đa
Còn hơn ở cả ngôi nhà trăm gian”
“Hai ta thề trước công môn
Sống không lấy được chắc chết hai hồn tan chung.”
Giai đoạn 3 Hát thề, hát dặn, hát tiễn:
-Họ sắp chia tay nhau nên họ phải thề, thề để vững tin.
“Tình ơi tính dặn tình rằng
Đâu hơn thì lấy đâu bằng đợi anh”
“Tình về tình lại sang liền
Tính đừng đi lại tốn tiền đò ngang.”
-Khi chia tay hai người không nỡ lìa nhau, cô gái muốn theo chàng trai về.
“Ai về về với ai ơi
Ai ngược ngược với ai xuôi xuôi cùng.”
Giảng viên giảng thêm:
Ngày xưa người ta xin khăn xin áo, ngày nay khi đọc câu “Yêu nhau cởi áo…” phải đặt câu đó trong chặng hát này, áo đây là áo khoác ở ngoài mà đây là cô gái xin áo của chàng trai, không có gì là không trong sáng.
Hát xin áo của các cô gái:
“Chàng về để áo lại đi
Để đêm thiếp đắp để ngày xông hương”
Có người có tình ý thật hoặc có người hát mang tính chất văn nghệ.
“Chàng về em chẳng dám nài
Áo trong chàng mặc áo ngoài em xin”
“Chàng về để áo lại đây
Để đêm em đắp kẻo gió tây lạnh lùng”
Đáp: Gió lạnh lùng em lấy mùng em đắp
Để áo anh ra về đi học kẻo trưa.”
Hát chia tay khóc lóc không muốn về lưu luyến bịnh rịnh
“Ra về chính nhớ mười thương
Bước chân lên ngựa dây cương dùng dằn”
“Ra về lòng dạ bàng hoàng
Ngẩn ngơ như mất lạng vàng trong tay”
Cô gái hỏi chàng trai sau về sớm vậy:
“Gió vàng hiu hắc đêm thanh
Đường xa nhà ngáy sao anh vội về
Đáp: anh về vài bữa anh ra
Đưa em với mẹ về ở chung một nhà” ./.
Hát đơn:
Hát một mình, một mình mình hát, một mình mình nghe, người diễn xướng tự đối thoại với chính bản thân mình, tiêu biểu cho hình thức này là bài hát ru con của các bà mẹ (người mẹ hát, phần nhạc để cho con, phần lời để cho mình, đó là 1 cách tìm điểm để người mẹ giải bày cảm xúc, giải bày nổi buồn của mình), đối tượng nghe hát ru không chỉ những đứa bé mà là những người lớn.
Khi đi làm một mình người ta cũng tự hát cho một mình mình nghe.
Hát đơn không phải là hát chính của ca dao- dân ca mà là hát đối đáp, thi tài, thử thách, hứng thú.
Ví dụ: hát đơn Người mẹ hát
“Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”
Người mẹ ru con thấy cuộc hôn nhân không mong muốn.
“Trách cha trách mẹ nhà chàng
Cầm cân không biết là vàng hay thao
Thật vàng chẳng phải thao đâu
Đừng đem thử lửa mà đau lòng chàng”
Thở than về cái nghèo của người nông dân
“Trách trời ăn ở không cân
Kẻ ăn không hết người lần chẳng ra”
Kết luận cho các hình thức diễn xướng:
-Qua các hình thức diễn xướng trên đây, bản chất trữ tình của Ca dao-dân ca càng bộc rõ, các hình thức diễn xướng đã đáp ứng được nhu cầu thể hiện tình cảm mọi lúc mọi nơi của người bình dân. Các hình thức diễn xướng thể hiện sự gắn bó của Ca dao-dân ca với đời sống hàng ngày.
-Ca dao ra đời từ hình thức diễn xướng, sống được nhờ diễn xướng, vì vậy khi tìm hiểu một tác phẩm ca dao cần đặc tác phẩm đó trong hoàn cảnh diễn xướng mới hiểu được hết cái hay cái đẹp của nó./.
|