Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
18:09, Tuesday.February 17 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
TÀI LIỆU THAM KHẢO MÔN VHDG 2
Cập nhật : 11/12/2012 - Đã xem : 4,553 lần

VĂN HỌC DÂN GIAN (tt)

(15/9/2012 – Hoa Thiện)

 

Câu 1,2,3, trên hoalinhthoai.com

 

Câu 4: Nghệ thuật Câu đố(08/09/2012 – lost FGA).

 

Nghệ thuật câu đố:

1.Giống tục ngữ:

Giống tục ngữ về sự ngắn ngọn sự cân đối nhịp nhàng có vần có điệu, vì vậy cũng xếp vào loại văn vần.

Ví dụ:    Mẹ gai góc con trọc đầu            cây bưởi

Đi phe phẩy về nhà dẩy ra mà chết              áo dài.

-Câu đố đa số nhiều hơn một vần dạng thơ.

 

2.So sánh:

Bắt đầu bằng các từ bằng…, vừa bằng.

Ví dụ “Bằng…”:      Bằng cái vun vùng xuống ao             mặt trăng

Đào chẳng thấy lấy chẳng được

Ví dụ: “Vừa bằng”    Vừa bằng hột lạt              con ốc.

 

3.Nhân hóa:

Thường sử dụng từ xưng hô dành cho con người.

Ví dụ:    Ông già mặc áo đỏ

Thằng nhỏ mặt áo xanh

-Người lao động nhân gian còn sử dụng trí tuệ gán cho sự vật, sự vật cũng biết cảm xúc cho con người vậy.

Ví dụ:    Mong sao cho chúa tôi giàu        con dán, nghệ thuật nhân hóa ở đây

Để tôi lấy mở lấy dầu tôi ăn.      Làm cho con vật cũng biết mong ước.

Ví dụ:    Mong sao cho chúa tôi hoang                            con nhệnh.

Để tôi mắc võng nghênh ngang suốt ngày

Ví dụ:    Tự nhiên cắt cổ đem chôn                    khoai lang

Bữa sau sống lại đẻ con từng bầy.

 

4.Nghệ thuật nói láy:

Ví dụ:    Khi đi cưa ngọn                  con ngựa.

Khi về cũng cưa ngọn

Ví dụ:    Vừa đi vừa lủi vừa mổ           lỗ mũi.

Ví dụ:    Cái gì đục rồi cất, cất rồi đục           cục đất.

Ví dụ:    Bằng trang điếu thuốc               ngón tay.

Ngủ ngày nó ngáy ton ton

Ví dụ:    Bằng cha bằng chả bằng chà               bà chằng.

Con nít nghe nói sợ đà thất thanh

Ví dụ:    Khoang đầu khoang cổ khoang lai

Bò la bò liệt …..

Ví dụ:    Ông đánh cái chen bà biểu đừng             là chân đèn.

 

+Từ đồng âm khác nghĩa:

Ví dụ: Thui thủi như con bò thui        đồng âm là 9 (sống, chín, số 9)

9 đầu 9 mắt 9 tay 9 mình          gải đáp là con bò thui.

Ví dụ:    Một họ chia làm ba phe            cây mây

Phe này giúp nước phe kia giúp nhà            mây trên trời

Một phe làm hại người ta            mây ở mắt

       Từ đồng âm không xuất hiện trên từ ngữ  mà hiện ra ở đáp án.

 

+Từ đồng âm phản nghĩa:

Ví dụ:       Ngã lưng cho thế gian nhờ              

Vừa êm vừa ấm lại vừa bất trung.

 

+Chơi chữ:

Rất đa dạng có nhiều cách thức khác nhau.

Ví dụ: Nửa làm mức, nửa nấu canh.           bí.

Đêm khi mất sắc theo anh học trò.           Viên bi, hòn bi.

Ví dụ:    Đầu mà gắn đuôi heo           chơi chữ.

Ai mà thấy nó lăn queo tức thì   

        Miêu tả con vật hung dữ con heo, cách tách từ ghép từ.

Ví dụ:   Con dê ăn cỏ bờ ao           cây dao.

Ví dụ:    Ví dầu cầu ván đóng đinh                 đố về một loại bánh, bánh lọt.

Cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi         

Ví dụ:    Núi kia ai đắp mà cao                    bánh hỏi.

Sông kia ai vét ai đào mà sâu.    

Ví dụ:    Cô kia ngồi tựa lăng phòng                         câu hỏi, bánh hỏi.

Tóc mây dợn sóng có chồng hay chưa

Ví dụ:   Nhớ em lệ chảy bùi ngùi                              bánh ướt.

Khăn lau không ráo áo chùi không khô                              

 

+Nghệ thuật bỏ lửng:

Miêu tả lơ lơ lửng lửng nó nhập nhằn khó đoán cho người nghe gây sự mâu thuẫn.

Ví dụ:   Cây gì càng kéo càng ngắn          điếu thuốc

Cái gì càng to càng nhỏ           con cua. 

Cái gì càng nặn càng nhẹ            kem đánh răng.        

Ví dụ:         Đi ra gặp phải nó                  

Bắt được thì để đó                        cái gai đạp trúng.

Không bắt được thì đem về

Kết luận:

Câu đố sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau tạo nên sự bất ngờ dí dỏm hóm hỉnh.

Câu đố cho thấy óc thông minh, trí tưởng tượng phong phú của người xưa, mỗi câu đố có một dáng vẻ riêng không trùng lập, như vậy cũng có thể nói mỗi câu đố là một sáng tạo bất ngờ.

Nhìn tổng thể toàn bộ câu đố Việt Nam ta thấy được….

Sự quan sát của họ về đời sống hiện tượng rất tinh tế, họ thông minh sáng tạo./.

 

Câu 5:Nội dung của Ca dao

Nội Dung Ca Dao – Dân Ca trữ tình

1.Tình yêu quê hương đất nước

-Tình yêu đối với thiên nhiên điều này rất dễ cảm nhận thể hiện trong tất cả cuộc hát đối đáp với nhau, đây là nội dung rất nổi bậc trong ca dao. Và người nông dân ngày xưa có điều kiện tiếp xúc rất nhiều với thiên nhiên, môi trường họ làm việc là thiên nhiên cho nên thiên nhiên đó đi vào trong lời ca tiếng hát rất là bình thường.

-Thiên nhiên trong ca dao luôn được cảm nhận phản ánh theo phương thức trữ tình, có nghĩa là tất cả đều được nhìn nhận qua lăng kính tình cảm yêu mến tự hào, khi miêu tả trai thanh gái lịch, món ngon, dù cho tả bất kỳ cảnh nào thì cũng hướng đến tình cảm con người.

“Đường vô xứ Nghệ (Huế) quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

 

“Đồng Đăng có phố kỳ lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh…”

 

Tình yêu sản vật món ngon của địa phương, vùng có sản vật ngon, người dân rất tự hào, khi hát người ta đưa những tự hào loại sản vật vào.

 

“Cần Thơ gạo trắng nước trong  

Ai đi đến đó lòng không muốn về”        thơ.

 

“Bến Tre giàu mía mỏ cày

Giàu nghêu thạnh phú

Giàu xoài Cái Mơn

Bến Tre biển cá sông tôm

Ba Tri muối mặn Giòng Trôm lúa vàng”

        Đọc qua 4 câu hình như dân gian đang liệt kê giàu cái này giàu cái kia tự hào dân tộc mình.

“Ăn bưởi thì hãy đến đây

Đến mùa bưởi chính vàng cây trĩu cành

Ngọt hơn quýt mật cam sành

Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn.”

 

a.Niềm tự hào đối với lịch sử:

Có nhiều câu ca dao tỏ lòng biết ơn đối với vị anh hùng của dân tộc.

                                                           

“Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi

Muốn coi lên núi mà coi           

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh còng.”

 

Những câu hát về Trương Định

“Gò Công anh dũng tuyệt vời

Ông Trương đánh lá tối trời đánh Tây”

Hỏi:

“Bà chi dẹp giặc kháng Ngô

Nữ nhi muốn hỏi anh phô cho tường”

Đáp:

“Bà Trưng bà Triệu kháng Ngô

Nữ nhi tô rạng hồng đồ nước nam”

 

Thời hiện đại ca ngợi hình ảnh người lính, ca ngợi về Hồ Chủ Tịch

“Đèo cao trăm thước đèo cao

Công Hồ Chủ Tịch còn cao hơn đèo”

“Ơn cụ Hồ sâu như Nam hải

Công cụ Hồ bằng dãi Trường sơ.”

 

b.Tình yêu đối với những người dân lao động bình thường

Gái khôn trai tài, gái đảm trai hiền.

“Đèn nào cao bằng đèn Cao Lảnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”

2.Tình yêu lứa đôi

Đề tài này rất phong phú rất lớn, ca dao về tình yêu lứa đôi nhìn chung có thể chia thành 4 tiểu loại sau, tiêu chí phân chia là những giai đoạn trong cuộc tình.

a.Ca dao tỏ tình

b.Ca dao tương tư

c.Ca dao thề nguyền

d.Ca dao hận tình.

a.Ca dao tỏ tình:

Những bài ca dao này nổi bậc ở tình chất lý tưởng hóa ở sự lãng mạn, người hát thường lạc quan yêu đời, nhìn đời bằng đôi mắt màu hồng (cuộc tình mới bắt đầu)

Hỏi:

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”

Đáp:

“Đan sàng thiếp cũng xin vâng

Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng.”

            Câu đối qua đáp lại nói bóng gió, không cụ thể, có khi tỏ bày tình cảm rất lãng mạn.

“Cô kia đứng ở bên sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”

 

Cũng có trường hợp nói thẳng, tình cảm mộc mạc:

“Cơm sôi lửa cháy gạo nhảy tưng bừng

Anh thương em như lửa nọ cháy phừng

Dù cho lở núi tan rừng cũng thương.”

       Phần nhiều phong cách những bài thơ tỏ tình của người miền Bắc khác với người miền Nam.

-Ca dao tỏ tình miền Bắc: rất bóng bảy trau chuốt ngôn ngữ.

-Ca dao miền Trung và miền Nam: có vẻ sôi nổi, giàu chất sống hơn, nói trực tiếp, nói thẳng không vòng vo.

 

Ca dao Tỏ tình miền Nam:

“Anh thương em thương lúng thương lủng

Thương lột da óc thương tróc da đầu

Ngủ đi thì nhớ thức dậy thì thương

Thương sao thương quá bất nhơn

Bữa nay gặp lại thương hơn bữa nào.”

       Phong cách không phải văn chương nhưng lời lẻ chân chất của người nông dân chính vì vậy đi vào trái tim nhanh nhất.

 

b.Ca Dao Tương tư:

Tập trung nói về nhớ thương, giận hờn, trách móc không gặp được nhau.

Nhà thơ Hoài Thanh người phê bình văn học nổi tiếng thời 30-45, ông đã khẳng định đây là bài ca dao hay nhất của Văn học dân gian:

“Khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo tiền

Lo vì một nỗi không yên một bề”

 

“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”

 

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

 

“Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”

       Cái hay đặc sắc thú vị nhiều nhiều nhất ở Ca dao là cái mà giác quan không nhìn thấy được, thế giới tình cảm bên trong con người khó định hình nhưng ca dao đã làm được điều đó.

Ví dụ một người bình thường nhớ người yêu thì nói là nhớ quá

“Thương ai rồi lại nhớ ai

Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng.”

        Nhà thơ Xuân Diệu đã khen người nông dân ngày xưa đã so sánh rất độc đáo như vậy.

 

c.Ca dao Thề nguyền:

Những bài này thể hiện lời thề thốt của đôi bên nhằm bộc lộ ý chí nghị lực quyết tâm vượt qua mọi thử thách để đến với tình yêu.

“Yêu nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.”

Dị bản khác thay thế bằng con số:

“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Thất bát sông cũng lội

Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua.”

       Tứ cửu là 4 lần 9 là 36 đèo

“Thân em như con cá rô thia lắp vũng chân trâu

Ba bảy hai mốt cần câu châu vào.”

 

       Khi người ta thề nguyền với nhau người ta hay lấy cảnh tự nhiên để thề nguyền như: trăng, núi, biển, rừng…mượn những nhân chứng như vậy để tạo thêm sức mạnh cho lời thề.

“Khi nào cho vượn lìa cây cho chim lìa tổ

Thiếp họa may lìa chàng”

 

“Chừng nào muối ngọt chanh thanh

Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng”

 

“Chừng nào cho ngựa rời cương

Em đây mới hết nhớ thương yêu chàng”

 

“Chừng nào núi Bụt hết cây

Lại Giang hết nước dạ này hết thương”

 

d.Ca dao Hận tình:

Tuy là yêu thương thắm thiết, thề nguyền dữ dội nhưng cũng có những cuộc tình không có kết thúc tốt đẹp nên sinh ra hình thành những bài thở than, trách móc, hận tình.

 

“Thấy anh như thấy mặt trời

Chói chan chói lóa khó ngó trao lời khó trao.”

 

“Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn.”

 

“Đến gần em như vàng chính nén

Được gặp em rồi như uống chen thuốc tiên.”

 

“Cổ tay em trắng như ngà

Mắt em liếc như là dao cau

Miệng cười như thể hoa ngâu

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”

                       

Ca dao Kết hôn rồi:

“Chồng con là cái nợ nần

Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mập.”

                      

Ca dao Hận tình:

“Chồng gì anh vợ gì tôi

Chẳng qua là cái nợ đời mà thôi.”

 

-Đôi lứa không đến được với nhau vì vậy trách móc, khổ đau oán hận, đay nghiến nhau, trách trời, trách ông tơ bà nguyệt, trách ông mai bà mối, trách rất nhiều thứ, trách người, trách ai, tiếc công, bên cạnh hát rồi còn thở than tiếc núi.

Đặc biệt là những chàng trai thường hay tiếc công  vì bỏ nhiều công sức để theo đuổi cô gái.

“Tiếc công anh đắp đập be bờ

Để ai quẩy đó mang lờ đến đơm”

 

“Tiếc công anh đan giỏ bỏ cà

Giỏ thưa cà lọt công đà uổng công”

          

“Tiếc công rầy xuống mai lên

Mòn đường nát cỏ chẳng nên trò gì”

 

 

 

3.Tình cảm gia đình:

a.Những câu hát tình nghĩa nhiều nhất là tình vợ chồng, thường là những câu vợ nói với chồng.

 

“Rau tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.”

 

“Thương chồng nấu cháo le le

Nấu canh bông lý nấu chè hạt sen”

-Phần nhiều tình cảm thể hiện trong ca dao là nghèo khổ khó khăn vì vậy càng mặn nồng hơn.

-Tình cảm của cha mẹ đối với con thể hiện sự chăm sóc, sự yêu thương, sự nuôi dưỡng không quản ngại khó khăn.

-Con đối với cha mẹ biết ơn kính trọng, hiếu để chăm sóc phụng dưỡng khi cha mẹ về già.

 

“Mẹ già như chuối chính cây

Gió lay mẹ rụng con rầy mồ côi.”

 

“Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.”

 

“Mẹ già ở túp liều tranh

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.”

 

“Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp một như đường mía lau.”

 

*Tình cảm con đối với cha mẹ còn thể hiện ở những đứa con gái lấy chồng xa quê cảm thấy nhớ thương cha mẹ.

 

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chính chiều.”

 

“Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chính chiều ruột đau.”

 

“Chiều chiều ra đứng bến sông

Muốn về quê mẹ mà không có đò.”

        Thời gian, không gian buổi chiều bắt đầu trong quá khứ kéo dài đến hiện tại, nghe rất buồn, rất hợp để diễn tả nhớ thương.

 

 

b.Những câu hát than thân và phản kháng của người phụ nữ

*Than thân của người phụ nữ:

-Than về chồng con, chồng vũ phu, chồng chè chén say xưa tối ngày.

 

“Đêm nằm nghĩ lại mà coi

Lấy chồng ăn nhậu như voi phá nhà.”

 

-Người phụ nữ hay so sánh khi còn ở với cha mẹ và đến khi đi lấy chồng.

 

“Khi xưa ở với mẹ cha

Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành

Từ ngày về ở với anh

Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi

Đất xấu nặn chẳng nên nồi

Anh về lấy vợ để tôi đi lấy chồng.”

                                                      

*Thở than hôn nhân bị ép buộc:

-Hôn nhân ép buộc, hôn nhân bị mua bán, hôn nhân tảo hôn, hôn nhân do mai mối.

 

“Lấy chồng chẳng biết mặt chồng

Đêm nằm tơ tưởng nghĩ ông láng giềng.”

 

Và nhiều bài nữa bắt đầu bằng công thức: “Thân em như…;thân anh như..”

-Người phụ nữ dùng để so sánh thân phận của mình.

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”

 

“Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài cát hạt ra ruộng cày.”

 

“Thân em như chổi đầu hè

Phòng khi mưa nắng đi về chùi chân.”

        Rất là xót xa thân phận của người phụ nữ.

 

 

“Thân em như cái sập vàng

Thân anh như manh chiếu rách nhà hàng bỏ quên

Lạy trời cho cả gió lên           

Cho manh chiếu rách nằm trên sập vàng.”

 

“Chàng ơi phụ thiếp làm chi

Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.”

       Người phụ nữ tự nhận thấy vị trí của mình chỉ ở chừng đó mà thôi, rất là xót xa rất là buồn.

-So sánh địch và ta:

 

“Vợ là địch bồ là ta

Chiến sự xảy ra ta về với địch

Nằm trong lòng địch ta nhớ về ta.”

 

c.Các mối quan hệ xã hội khác (đọc giáo trình).

-Những bài nói về người nông dân, về sự nghèo khổ, những nỗi niềm của người nông dân trong xã hội cũ, không đủ ăn, không đủ mặc, sự bất hạnh, bị áp bức bóc lột.

-Người lính và người vợ lính, khi có chiến tranh xảy ra những người lính phải gia nhập hàng ngũ (người lính thở than trong cuộc chiến tranh phi nghĩa) những tập đoàn phong kiến những phe nhóm đấu đá với nhau, người nông dân bị bắt ra trận để chiến đấu đem lại quyền lợi cho tập đoàn thống trị nào đó thôi, người lính khổ thì vợ lính cũng rất khổ.

“Thùng thùng trống đánh rủ đi

Bước chân ra trận nước mắt như mưa”

-Ca dao trào phúng dùng tiếng cười phê phán cái chưa hay, chưa tốt, chưa đẹp trong xã hội, những cái xấu trong nội bộ nhân dân lao động, những cái xấu ở tầng lớp trên vua chúa, quan lại, cô gái hay ăn quà, cô gái hay đểnh đoản, chàng trai tham ăn, chàng trai uống rượu, những bài nói về người tu không thật lòng tu mượn của chùa làm việc sai trái khác, những bà già đi xem bói lấy chồng

 

“Bà già đi chợ cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng

Thầy bói xem quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.”./.

 

Câu 6: Cái hay cái đẹp trong Ca dao (biểu hiện về nội dung, diễn xướng của ca dao).

 

1.Các hình thức diễn xướng của ca dao – dân ca trữ tình:

Nói, Kể, Hát, và Diễn.                     

-Ca dao – dân ca trữ tình diễn xướng chủ yếu dùng hình thức hát.

-Các hình thức diễn xướng của CD-DC trữ tình rất phong phú vì nó thâm nhập vào mọi sinh hoạt của đời sống xã hội và thu hút rất nhiều người tham gia.

Các hình thức diễn xướng:          Hát đối đáp lẻ.

                                                        Hát đối đáp trong cuộc.

+Hát đối đáp lẻ: mang tính tự do           

Là hát ngẫu hứng, tự do, hát sao thì hát, đây là hình thức hát tự do, thời điểm tự do, địa điểm hát tự do, nội dung hát tự do, hát bất cứ cái gì, hát lâu hay mau tùy hai người hay hai nhóm người.

 

Áo vá vai vợ ai không biết

Áo vá quàng chí quyết vợ anh

Đáp:            Áo vá vai vợ ông cai ông đội

Áo vá quàng bà nội của anh.

Ví dụ:       Cô kia xách giỏ đi chơi

Cho tôi gởi trầu cô xách dùm tôi.          

Đáp:          Trầu anh trầu đắng trầu nồng

Em không dám nhận sợ chồng em ghen.           

 

Phân biệt câu nào của nam hay nữ:

Nữ:       Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím

Em có chồng rồi trả yếm lại cho anh

 

Nam:     Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh.

Yếm em em mặc yếm gì anh anh đòi.                     

 

+Hát đối đáp trong cuộc:đây là hình thức trái ngược hoàn toàn với hát đối đáp lẻ, qui định rất chặt chẽ, mang tính chất quy mô hơn thường diễn ra theo nhiều giai đoạn (mô phỏng theo cuộc tình thông thường), chia làm 3 giai đoạn (1.Hát đố-hát họa; 2.Hát xe kết; 3.hát thề, hát dặn, hát tiễn).

 Thời gian định trước hát vào lúc nào.

-Bắc Ninh hát ở hội, hát vào lúc nào.

-Hát phường nón, phường vải.

Địa điểm cũng được ấn định trước.

-Bắc Ninh: hát trong nhà, hát trên thuyền hay trên đồi.

Nội dung hát: hát gì cũng có sự sắp xếp trước phần nhiều nói về tình yêu nói chung.

Độ dài cuộc hát diễn ra bao lâu

Ví dụ hát phường vải diễn ra cả một buổi tối có những cuộc hát như quan họ Bắc Ninh hát có thể vài ngày.            

 

Giai đoạn 1 Hát chào, hát thăm:

Hát chào hát thăm mang tính chất xã giao gọi tên là hát đối đáp nam nữ, có thể cùng làng hay khác làng, hay một nhóm nam và một nhóm nữ tìm hiểu thông tin để hiểu biết về nhau để đi vào cuộc hát chính thức.

+Hỏi về quê quán:

-Hỏi chàng quê quán nơi đâu, mà chàng thả lưỡi buôn câu chốn này.

+Hỏi tên:

-Hỏi anh tên họ là chi nói cho em biết mai đi em chào.

(câu trả lời đúng sự thật xl)

+Hỏi vợ chồng:

-Anh đà có vợ con chưa mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào, vậy nhà anh ở nơi nào để em bước vào hầu hạ thay anh.

+Hỏi tuổi:

Đố:

Trăng lên khỏi núi trăng tròn

Xuân xanh em mấy mà giòn rứa em      

Đáp:

Trăng lên khỏi núi trăng cao

Xuân xanh đôi tám đang ước ao duyên tình.

 

Ví dụ bên nam chào bên nữ

“Tôi chào cô Hai như bông mai mới nở

Tôi chào cô Ba như hạt đổ đầu non

Tôi chào cô Bốn như hòn non bộ

Tôi chào cô Năm như một ổ vàng chôn

Tôi chào cô Sáu như bức môn treo hàng vách

Tôi chào cô bảy như quyển sách chạm bìa vàng

Tôi chào cô Tám như hai hàng khai cẩn

Tôi chào cô Chính như rồng ẩn mây xanh

Tôi chào cô Mười như nhành hoa liễu

Hình dung yểu điệu ăn nói tươi cười

Tôi chào cô Hai cho chí cô Mười          

Chào chung một tiếng mỗi người một câu.”

“Chào cô Hai như sao mai rạng mọc

Chào cô Ba như hạt ngọc lung linh

Chào cô Tư như thủy tinh trong vắt

Chào cô Năm như thơm ngát bông lan

Chào cô Sáu như hào quang óng ánh

Chào cô Bảy như cuốn sách chạm bìa vàng

Chào cô Tám như hai hàng liển cẩn

Chào cô Chính như hợp cẩn Hà Tiên

Chào cô Mười như chim Uyên uốn lưỡi trên nhành

Chào rồi tôi tôi chụp hỏi rành rành

Hỏi căn cơ hà xứ phụ mẫu cũng huynh đệ hiểu đa

Hỏi cho biết cửa biết nhà

Nhờ ông mai tới nói để giao hòa với một cô.”

 

Ví dụ bên nữ chào bên nam

“Em chào anh Hai như chim bay không mỏi cánh

Em chào anh Ba như ánh nắng mặt trời vàng

Em chào anh Tư như vườn cam giữa biển

Em chào anh Năm như cây kiển gặp mùa xuân

Em chào anh Sáu như gương trầm đốt sáng

Em chào anh Bảy như vừa thủy chung vừa tài cán như Phạm Công

Em chào anh Tám như Triệu Tử Long giết giặc

Em cháo anh Chính như Thạch Sanh diệt quỷ ác cứu người

                                                                             

 

“Chào người áo trắng áo đen

Chào người áo tím cười duyên nửa chừng

Chào cô bận áo vá quàng

Thương cô áo rách vá chồng vải thô.”

“Anh chào bên nam thì mất lòng bên nữ

Anh chào quân tử thì bỏ bụng thuyền quyên

Cho anh chào chung một tiếng chứ chào riêng khó chào.”

 

Tóm lại: hát chào, hát thăm hình thành đầu tiên mang tính chất xã giao.

 

Hát đố- hát họa, hát xe kết, hát xe kết là giai đoạn chính.

+Hát đố-hát họa: thử tài cao thấp, có biết lịch sử, văn chương hay không.

+Hát xe kết: là giai đoạn chủ yếu sau khi thử tài đố rồi bắt đầu hát xe kết (hạnh phúc thành tựu, tách móc không lấy được nhau …).

Hát đố - hát họa:

Đôi bên đã làm quen với nhau rồi bước vào hát đố, hát họa (đố họa về hoa-quả, mưa-nắng, núi-sông, lịch sử, văn chương, địa lý …)

Hát xe kết:

Tỏ bày tình cảm yêu thương mong ước trở thành chồng vợ…, có những cuộc hát đố tranh tài nhau rất kịch tính cho nên xuất hiện thầy gà, bên nam hay bên nữ khi đi hát đều dắt theo thầy gà để làm trọng tài, cuộc đối đáp như vậy thì tính chất văn nghệ nó giảm đi.

Đố:

“Đố anh chi sắc hơn dao

Chi sâu hơn biển

Chi cao hơn trời”

Đáp:

“Em ơi mắt sắc hơn dao

Bụng sâu hơn biển

Trán cao hơn trời”

 

Đố về Địa lý:

Đố:

“Em đố anh sông nào là sông sâu nhất

Núi nào là núi cao nhất nước ta

Anh mà giảng được cho ra

Thì em kết nghĩa giao hào cùng anh”.

Đáp: lịch sử                                     

“Sâu nhất là sông Bạch Đằng

Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

Cao nhất là núi Lam Sơn

Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”

 

 

 

Đố địa lý sông –núi:

 

Đố:

“Sông gì chính khúc rồng bơi

Núi gì ba đỉnh cao vời bằng mây”

Đáp:       

“Cửu Long chính khúc em ơi

Ba Vì sừng sửng cao vời bằng mây”.

Đố:      

“Đố anh đi học không thầy

Làm bài không bút gái này theo không”

Đáp:

“Em về dệt cưỡi không gon

Đưa thoi thông suốt anh cho lạng vàng”

Đố:

“Đến đi hỏi khách tương phùng 

Chim chi một cánh dạo cùng nước non”

 

Đáp:

“Tương phùng nhắn với tương tri

Lá buồm một cánh bay đi khắp trời”.

Đố:

“Nghe tin chàng học thú Y

Con chi có răng không lưỡi

Con chi đó chàng”

Đáp:

“Có răng không lưỡi cái bừa

Vì nhà nông sớm trưa ngoài đồng.”

Đố:

“Thấy anh hay chữ em đây hỏi thử đôi điều

Đường từ Châu Đốc Hà Tiên kênh nào chạy thẳng nối liền hai nơi

Đất nào lắm dốc nhiều đồi, đèn nào cao nhất tiếng đời đều nghe

Sông nào tấp nập thuyền bè, hồ nào với biển cặp kè bên nhau

Trai nào nổi tiếng anh hào, anh mà đáp đặn má đào em trao”

Đáp:

“Nghe em hỏi tức anh đây đáp phức cho rồi

Đường từ Châu Đốc Hà Tiên có kênh Vĩnh Tế nối liền hai nơi

Đất nam Van lắm dốc nhiều đồi.

Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe

Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè

Biển Hồ hai chữ cặp kè bên nhau

Trai Nam Việt nổi tiếng anh kiệt

Anh đà đáp đặn má đào em trao đi”

 

“Trai nào hay cho bằng trai Cao Lãnh

Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân”.

 

 

Hò Nam Bộ: hò chèo ghe, hò cấy lúa, hò giã gạo

Đố:

“Vậy chứ thiếp hỏi chàng

Quân sư phụ mẫu, phu thê mới ngồi chung lại một thuyền

Chớ chẳng may thuyền đắm

Thiếp xin hỏi      chàng chàng vớt ai.”

Đáp:

“Anh đứng giữa trời anh xin đáp chẳng sai

Chớ quân sư anh vớt để trên đầu

Còn phụ mẫu anh để hai vai

Bớ hiền thê ơi lại đây cho anh cõng

Còn hai tay anh vớt thuyền.”

 

                        

Đố:

“Nghe anh hay chữ em hỏi thử đôi lời

Vậy chứ trong các thứ dầu dầu chi là dầu không thắp

Trong các thứ bắp bắp chi là bắp không rang

Trong các thứ than than chi là than không quạt

Trong các thứ bạc bạc chi là bạc không đổi không mua

Anh mà đối đặn mới biết ai thua phen này.”

Đáp:

“Trong các thứ dầu có nắng dãi mưa dầu là dầu không thắp

Trong các thứ bắp có bắp giò bắp cẳng là bắp không luột không rang

Trong các thứ than có than hỡi than hời là than không quạt

Trong các thứ bạc có bạc tình bạc ngải là bạc không mua

Anh đà đối đặn em tính ai thua phen này.”

Đố:

“Em nghe anh học ngoài trào

Chị dâu té giếng níu chổ nào kéo lên.”

Đáp:

“Anh nắm đầu thì sợ tội, nắm tay thì lỗi đạo tam can

Dậm chân kêu bớ ông trời vàng

Cho hai con rồng bạch xuống cứu nàng chị dâu”

 

        Câu hát đố rất thú vị ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam đều có tùy theo đặc điểm địa phương mà có câu hát đố.

 

Hát Họa: phổ biến ở miền Bắc.

Hát họa là gì?

Hát họa là bên nam ra 1 đề tài, ví dụ đề bên nữ hát về mưa, đa số bài hát họa là những bài đã thuộc đã xuất phát từ các cuộc hát trước đó

        Loại hát này ở miền Trung và miền Nam không có phổ biến.

 

Ví dụ hát họa về hoa, mưa-nắng; núi-sông; trời-đất; hoa-quả

Đòi hỏi người hát có kiến thức phong phú đặt câu gieo vần làm sao thành bài hát.

 

“Hoa mơ hoa mận hoa đào

Kìa bông hoa cúc biết vào tay ai

Xin chàng nên thắm chớ phai

Thoan thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu

Xin chàng đừng phụ hoa ngâu       

Tham nơi phú quý đi cầu mẫu đơn…”

Hát họa về mưa:

“Hạt mưa chính ở trên trời

Mưa xuống hạ giới là nơi cõi trần

Tháng giêng là tiết mưa xuân

Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra

Tháng ba là tiết mưa sa

Tháng tư sấm đậm lại ra mưa rào

Tháng năm mưa trận

Tháng sáu mưa cơ   

Tháng bảy rập rờn là tiết mưa ngâu.”

Khi hết một bài hát họa thì có câu kết thúc.

 

Giai đoạn 2 Hát xe kết (tỏ bày tình cảm):

Hát xe kết có tiếng cười và nước mắt, ví dụ tỏ bày tình cảm yêu thương gắn bó, đây là một giai đoạn có tổ chức sắp xếp trước hát chào, hát họa rồi đến hát xe kết, là trò vui văn nghệ hoăc có khi thật lòng tỏ tình với ai đó..

“Anh say em như bướm say hoa

Như Lưu Linh say rượu Bá Nha say cầm”.

 

“Bắt thang hái ngọn trầu hương

Đó thương ta một ta thương đó mười”

        Tình cảm ở giai đoạn hát xe kết này rất phong phú có thể là thề thốt, nhớ nhung, than khóc, có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

“Thương nhau ở dưới góc đa

Còn hơn ở cả ngôi nhà trăm gian”

 

“Hai ta thề trước công môn   

Sống không lấy được chắc chết hai hồn tan chung.”

Giai đoạn 3 Hát thề, hát dặn, hát tiễn:

-Họ sắp chia tay nhau nên họ phải thề, thề để vững tin.

 

“Tình ơi tính dặn tình rằng

Đâu hơn thì lấy đâu bằng đợi anh”  

 

“Tình về tình lại sang liền

Tính đừng đi lại tốn tiền đò ngang.”

-Khi chia tay hai người không nỡ lìa nhau, cô gái muốn theo chàng trai về.

 

“Ai về về với ai ơi

Ai ngược ngược với ai xuôi xuôi cùng.”

Giảng viên giảng thêm:

Ngày xưa người ta xin khăn xin áo, ngày nay khi đọc câu “Yêu nhau cởi áo…” phải đặt câu đó trong chặng hát này, áo đây là áo khoác ở ngoài mà đây là cô gái xin áo của chàng trai, không có gì là không trong sáng.

 

Hát xin áo của các cô gái:

“Chàng về để áo lại đi

Để đêm thiếp đắp để ngày xông hương”

Có người có tình ý thật hoặc có người hát mang tính chất văn nghệ.

 

“Chàng về em chẳng dám nài

Áo trong chàng mặc áo ngoài em xin”

 

“Chàng về để áo lại đây

Để đêm em đắp kẻo gió tây lạnh lùng”

Đáp: Gió lạnh lùng em lấy mùng em đắp

Để áo anh ra về đi học kẻo trưa.”    

 

Hát chia tay khóc lóc không muốn về lưu luyến bịnh rịnh

“Ra về chính nhớ mười thương

Bước chân lên ngựa dây cương dùng dằn”

“Ra về lòng dạ bàng hoàng   

Ngẩn ngơ như mất lạng vàng trong tay”

Cô gái hỏi chàng trai sau về sớm vậy:

“Gió vàng hiu hắc đêm thanh

Đường xa nhà ngáy sao anh vội về

Đáp: anh về vài bữa anh ra

Đưa em với mẹ về ở chung một nhà”  ./.

Hát đơn:

Hát một mình, một mình mình hát, một mình mình nghe, người diễn xướng tự đối thoại với chính bản thân mình, tiêu biểu cho hình thức này là bài hát ru con của các bà mẹ (người mẹ hát, phần nhạc để cho con, phần lời để cho mình, đó là 1 cách tìm điểm để người mẹ giải bày cảm xúc, giải bày nổi buồn của mình), đối tượng nghe hát ru không chỉ những đứa bé mà là những người lớn.

Khi đi làm một mình người ta cũng tự hát cho một mình mình nghe.

Hát đơn không phải là hát chính của ca dao- dân ca mà là hát đối đáp, thi tài, thử thách, hứng thú.

Ví dụ: hát đơn Người mẹ hát

“Bướm vàng đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”

        Người mẹ ru con thấy cuộc hôn nhân không mong muốn.

 

“Trách cha trách mẹ nhà chàng

Cầm cân không biết là vàng hay thao

Thật vàng chẳng phải thao đâu

Đừng đem thử lửa mà đau lòng chàng”

                                                        

Thở than về cái nghèo của người nông dân

“Trách trời ăn ở không cân

Kẻ ăn không hết người lần chẳng ra”

 

Kết luận cho các hình thức diễn xướng:

-Qua các hình thức diễn xướng trên đây, bản chất trữ tình của Ca dao-dân ca càng bộc rõ, các hình thức diễn xướng đã đáp ứng được nhu cầu thể hiện tình cảm mọi lúc mọi nơi của người bình dân. Các hình thức diễn xướng thể hiện sự gắn bó của Ca dao-dân ca với đời sống hàng ngày.

-Ca dao ra đời từ hình thức diễn xướng, sống được nhờ diễn xướng, vì vậy khi tìm hiểu một tác phẩm ca dao cần đặc tác phẩm đó trong hoàn cảnh diễn xướng mới hiểu được hết cái hay cái đẹp của nó./.

 

      

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này