Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
19:40, Tuesday.May 19 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
TÀI LIỆU KHẢO MÔN MÔI TRƯỜNG 2
Cập nhật : 11/12/2012 - Đã xem : 4,208 lần

ÔN THI MÔN MÔI TRƯỜNG

(18/10/2012 – Hoa Thiện).

 

Chương I:ôn hết                      

1.Khái niệm Môi trường:

-Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, với sự tồn tại và phát triển của con người và tự nhiên.

-Có 2 loại môi trường, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, có những tài liệu người ta gọi môi trường là hoàn cảnh.

*Môi trường tự nhiên:

Người du canh du cưcho rằng muốn ở được vùng nào đó trung du hay núi cao thì môi trường tự nhiên phải có 5 yếu tố sau:

1.Nước – Thủy

2.Lửa – Hỏa (để nấu chín thức ăn, sưởi ấm, thắp sáng, rèn vũ khí, rèn công cụ)

3.Cây – Mộc (để săn bắt, hái lượm)

4.Kim loại – Kim (làm công cụ, làm đồ dùng)

5.Đất – Thổ

Nếu gốc độ tôn giáo gọi là Nho giáo.

Nếu gốc độ học thuật gọi là Nho học.

Nếu gốc độ trường phái gọi là Nho gia.

Dịch sang tiếng Anh: Lớp người mất hết tư liệu sản xuất         lớp người vô sản (Trung Hoa)

Trên thế giới hiện nay có 3 ngữ hệ: 1.a, b, c; 2.ऋ; 3.ઈ 

        Môi trường sinh ra các hành

        Muốn xác định các hướng chỉ cần xác định hướng Bắc hay hướng Nam là ra các hướng còn lại.

Người cổ xưa:cảm nhận bằng 5 cơ quan cảm giác.

-Càng đi về hướng Bắc khí hậu càng lạnh vì có nước (hành thủy).

Giải thích: vì hướng đó có nhiều nước cho nên hành thủy đóng ở đó.

Trong thực tế sau này khoa học phát triển, càng lên cao càng lạnh (Bắc Băng Dương) gió hướng Bắc thổi vào rất lạnh vì qua hồ Bancan (đây là hồ nước ngọt lớn nhất thế giới) của Liên Xô lấy rất nhiều nước, thổi vào Mông Cổ (Sa mạc) mất nước sau đó thổi vào Trung Quốc mất nước 1 lần nữa, bắt đầu thổi xuống phía nam rất khô (Gió mùa Đông Bắc) rất khô nức nẻ, khó chịu.

-Càng đi về hướng Nam khí hậu càng nóng vì nó có lửa đóng ở hành đó (hành hỏa), cho nên Nam hỏa

Về Sau khoa học phát triển càng về hướng Nam càng nóng vì xích đạo, mặt trời chiếu sáng nhiều.

 

-Càng đi về hướng Đông khí hậu mát mẻ do biển Hoàng Hải (biển Đông) Thái Bình Dương thổi vào, mưa thuận gió hòa, cây cối xanh tốt triển (hành mộc), sinh ra môi trường tự nhiên.

-Càng đi về hướng Tây, gặp núi cao Tây Bắc Tây Tạng có quặng (hành Kim)

 

Từ chỗ môi trường tự nhiên sinh ra môi trường xã hội và đối tượng con người.

Từ ngũ hành (trung tâm) người ta gán cho mỗi một hướng của hành đó là Đông mộc, Tây kim, Nam hỏa, Bắc thủy, cứ thế người ta suy ra.

Người Định canh định cư: (Dân vùng đồng bằng)

Con người ta có xu hướng đi tìm đến tận cùng.

-Thế gian này có 3 thế giới:        -Trời – Thiên

     -Người – Nhân

     -Đất – Địa

Ai sinh ra ta?

       Người vùng đồng bằng giải thích do thiên địa giao hòa với nhau để sinh ra con người.

Trời là cha, đất là mẹ sinh ra con người.

-Cái gì liên tục vận động là dương (+), là người đàn ông.

-Cái gì nằm yên chứa đựng mần sống sinh sôi nảy nở là âm (-), là người đàn bà.

-Con người ta là do âm dương kết hợp mà thành, sáng là (+), tối là (-)

Vì sao có đường chân trời?

Vì ta ra biển thấy trời với biển gần nhau có đường chân trời

Vì trời tròn, đất vuông.

-Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.

                Việt Nam ở thế đất thiên thời địa lợi.   

Vì sao lấy số lẻ?                                                     

Vì tim nằm bên phải, thuận chân phải, thuận tay phải, do đó làm thềm nhà, bậc thang nên làm bậc lẻ, vì khi bước chân phải lên nâng đỡ cả cơ thể lên không ảnh hưởng đến tim.

Quan sát sông Sài gòn khi trăng khuyết thấy nước rút xuống, trăng tròn nước lên, và hình như mặt trăng và nước ở sông SG có liên hệ với nhau, chúng có liên hệ với nhau vì trái đất quay, người ta tìm được khi nào trăng tròn, khi nào trăng khuyết, người ta tìm được con nước thủy triều và kết luận rằng việc con nước và trăng tròn, trăng khuyết có liên hệ với nhau.

Nhà có trồng vườn cây trước cửa, thấy rất lạ một thời kỳ lá ra xanh tốt, một thời kỳ nó rụng đi trơ lại cành cây khẳng khiu, một thời gian sau nách của những cành cây khẳng khiu bắt đầu đâm chồi nẩy lộc, hoa bắt đầu ra sau một thời kỳ trái chín nó rụng xuống, rồi lá lại ra sum suê cứ lập đi lập lại như vậy người ta tìm ra được quy luật sinh trưởng của cây trồng. Người ta tìm ra được lịch của mặt trăng mà chúng ta hay xài là âm lịch (dương lịch là sau này). Như vậy người cổ xưa sống với môi trường tự nhiên người ta đã quan hệ với nó như thế và nó ảnh hưởng trực tiếp là như vậy.

 

2.Thành phần của môi trường tự nhiên (cấu tạo):

Thành phần của môi trường bao gồm các yếu tố như: không khí, đất, nước, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi rừng, sông, hồ, biển, sinh vật (động vật và vi sinh vật), các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất (khu công nghiệp), khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.

-Tự nhiên bao quanh chúng ta hiện nay vô cùng rộng lớn nhưng cho đến hiện nay khả năng con người chỉ nghiên cứu trong giới hạn.

a.Môi trường đất:

-Đất con người nghiên cứu bề mặt trái đất và sâu vào trong lòng đất đến 60-70 km.

-Ngoài biển khơi (đáy biển) nơi sâu nhất của đáy biển từ 2-8 km.

+Biển Bắc băng dương diện tích đáy biển là 13,1 triệu km2 .

Lòng chảo phía tây của Bắc băng dương sâu 5180 m.

+Ấn Độ Dương với diện tích là 74,9 triệu km2, vực sâu nhất là vực Gia va là 7455m.

+Đại Tây Dương diện tích 93,5 km2.

Vực sâu nhất là Puectorico 9219 m

+Thái Bình Dương diện tích 179,7 triệu km2.

Vực sâu là Marian 11034 m.

b.Môi trường nước:

-Biển, sông ngòi, ao, hồ, đầm lầy, nước ngầm và băng tuyết.

             Sông ngòi do dãy núi chi phối

Sông ngòi Việt Nam:

+Ở phía Bắc nó chảy theo hướng Đông Bắc Tây Nam, sông ngòi do dãy núi chi phối.

Miền Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn con sông bắt nguồn từ Hy Mã Lạp sơn chảy về Việt Nam rồi ra vịnh Bắc bộ.

Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình)      ghép các tỉnh

Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà tĩnh)

Sơn La giữ nguyên không tách.

Miền Nam: Hậu Giang gồm (Bạc Liêu Cà mau Duyên Hải)

Miền Trung có dãy Trường Sơn án ngữ, đa số các sông bắt nguồn từ dãy trường sơn đổ ra biển.

Sông Hồng – sông MêKông bắt nguồn từ nước ngoài chảy vào Việt Nam rồi ra biển.

Komtum có những con sông bắt nguồn từ Việt Nam sang Campuachia.

c.Môi trường Không khí:

So với đại dương và mặt đất, không khí mênh mong bao la, chúng ta chỉ có khả năng nghiên cứu lớp không khí bao quanh con người và có ảnh hưởng trực tiếp tới con người.

-Ozone  (O3) tạo áo giáp và thường có ánh nắng mặt trời thì oxy (O2) mới thành ozone (O3).

Tầng ozone ven xích đạo là dầy nhất 18 km.

 Ở Bắc cực và nam cực tầng ozone không được hình thành, chỉ có 8 km rất mỏng

Khi công nghiệp của ta phát triển phá tầng ozone, thì nó phá thủng ở 2 đầu Bắc cực và nam cực, Nam cực hiện nay lổ thủng tới 2 triệu km2. Ánh sáng mặt trời có tia cực tím chiếu xuống gây bị ung da, tia cực tìm chiếu vào con người gây mù mắt, viêm da, ung thư da (ngoài ra đèn la de chiếu vào mắt là bị mù vĩnh viễn).

Ô nhiễm không khí không có biên giới lan tỏa khắp nơi, và xử lý ô nhiễm không khí vô cùng phức tạp và tốn kém hơn nhiều.

 

3.Ô nhiễm Môi trường:

Khái niệm:

-Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường là sự vi phạm tiêu chuẩn về môi trường.

(Bản chất thì có 1, tính chất thì có nhiều, nhiều tính chất hợp lại thành bản chất).

*Tính chất của môi trường: có 3

-Tính chất lý học: độ trong của nước.

-Tính chất hóa học: độ chua củ nó.

-Điều kiện vi sinh (vd: con mẻ), nhờ vi sinh vật mới phân hủy.

*Tiêu chuẩn của Môi trường:

-Là những chuẩn mực cần thiết đảm bảo để thành phần môi trường phù hợp với đối tượng sử dụng.

-Như vậy có nhiều tiêu chuẩn của môi trường vì mỗi tiêu chuẩn phù hợp với đối tượng sử dụng của môi trường đó.

Ví dụ: Tiêu chuẩn của nước uống, nước sinh hoạt khác với tiêu chuẩn của nước phục vụ nông nghiệp, khác với tiêu chuẩn nước phục vụ y tế v.v..

 

4.Suy thoái Môi trường:

-Là sự thay đổi về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu cho con người và tự nhiên gọi là suy thái môi trường.

-Không khí có các thành phần cấu tạo nên nhưng sau đó do ô nhiễm môi trường một số thành phần cấu tạo nên không khí mất đi hoặc là số lượng đó nó gia tăng gây ra suy thoái môi trường.

Ví dụ: Trong không khí có hàm lượng co2là khí co2nhờ đó cây xanh mới quang hợp mới sống được, nhà máy, xí nghiệp, xe cộ chạy thải ra lượng co2tăng lên thành phần môi trường thay đổi, thành phần đó thay đổi làm ảnh hưởng xấu tới môi trường tự nhiên gọi là suy thoái môi trường.

                    

5.Sự cố Môi trường:

-Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc là do sự biến đổi bất thường của tự nhiên gây ra suy thoái môi trường nghiêm trọng.

Nguyên nhân:

+Do bão lũ lụt hạn hán, nức đất.

+Do núi lửa,  động đất, mưa đá, mưa acid.

+Do biến đổi khí hậu gây ra.

+Do hỏa hoạn, cháy rừng.

+Do sự cố nhà máy xí nghiệp           ở Việt Nam hiện nay không phải là sự cố mà là cố tình gây ra.

+Do sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác vận chuyển khoán sản (dầu khí, than đá)  hoặc sự cố sập hầm lò hoặc dầu phụt dầu lên.

+Do sự cố của lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử kho chứa đất phóng xạ.

+Sự cố vỡ đập thủy điện.

 

6.Quản lý về tai biến môi trường:

-Con người không thể ngăn chặn được thiên tai mà chỉ hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra, thiên tai gây ra thì gây thảm họa chết người hao hụt tài chính, ảnh hưởng kinh tế xã hội,        cho nên phải tìm cách giảm thiểu do thiên tai gây ra, người ta gọi là công tác quản lý môi trường.

 *Như Việt Nam phải làm một số việc sau đây:

1.Lập kế hoạch sự cố tràn dầu như là thiết lập bộ máy báo động, rồi làm sạch các vùng biển có dầu, bảo vệ các hệ sinh thái.

2.Khống chế lũ lụt bằng nhiều cách, (ở Bắc bộ bình quân có 5 - 6 cơn bão/ 1 năm).

3.Khống chế sự phá hoại của bạn.

GV: Theo các bạn bằng cách nào khống chế tác hại của bạn?

TL: Phải trồng cây rừng phòng hộ, hiện ở Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định         khai thác cát đen.

Rừng Nam Cát Tiên, Cần Giờ rừng ngập mặn.

 

CHƯƠNG I: TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ SINH THÁI.

I.Tài nguyên:

1.Định nghĩa:

Tài nguyên là tất cả mọi dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới sinh vật. Tài nguyên thiên nhiên là một phần của các thành phần môi trường.

Ví dụ: rừng cây, đất đai, nguồn nước, khoáng sản, cùng tất cả các loài động thực vật khác…

Chú ý: (nhu cầu của con người về vật chất ngày một tăng, cho nên giới hạn về tài nguyên hữu dụng là nó vô tận, có thể thời kỳ này vật chất đó chưa hữu dụng, nhưng thời kỳ sau thì nó hữu dụng, thì vật chất đó trở thành  tài nguyên).

Ví dụ: số sim điện thoại là tài nguyên

-Tài nguyên chỉ có ngày càng cạn kiệt chứ không thể sinh sôi nảy nở được, cho nên chúng ta cần sử dụng một cách hợp lý và khoa học.

 

II.Các loại tài nguyên: có 2 loại

1.Tài nguyên có thể khôi phục:

Là loại tài nguyên có thể thay thế hoặc phục hồi với điều kiện phù hợp sau một thời gian sử dụng.

Ví dụ: - Nước là tài nguyên có thể khôi phục được

-Không khí là tài nguyên có thể khôi phục.

-Đất là tài nguyên có thể khôi phục.

Vật nuôi cây trồng:       -Vật nuôi nhân giống, lấy giống v.v..

  -Cây trồng gieo hạt.

2.Tài nguyên không thể khôi phục:

-Tài nguyên khoán sản khai thác là hết.

Đây là loại tài nguyên phần lớn do quá trình địa chất tạo ra. Ví dụ các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt…). Các loại tài nguyên này, sau khi sử dụng thì mất đi, không thể nào khôi phục.

Ví dụ: than cám, than bụi dùng cho dân dụng.

(*Toàn bộ châu thổ sông hồng than rất nhiều than, độ sâu than này 600m.

*Phía Nam có than bùn ở vùng Cà Mau, do cây tràm chết rồi thành than ở vùng thấp lâu ngày phong hóa thành than.

*Khai thác dầu muốn lấy 1 lít dầu lên thì phải bơm xuống cho nó 1 lít nước.

*Khí đốt đi liền với dầu khí.

-Nga là nước giàu nhất về khí đốt.

-Mũi khoan đầu tiên của chúng ta từ năm 1986, nhà máy lọc dầu mới xây dựng.)

Ngoài cách phân chia trên, cũng có cách phân chia tài nguyên ra 2 loại: tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn. Tài nguyên hay còn gọi là tài nguyên vô tận. 

Tài nguyên nếu không biết giữ gìn quản lý và khai thác tốt thì tài nguyên cũng sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt.

Do sự phát triển khoa học công nghệ, hiện nay con người có thể chế tạo ra được một số nguyên vật liệu không thuộc tự nhiên, nhưng suy cho cùng những nguyên vật liệu nhân tạo con người tạo ra được cũng phụ thuộc vào tự nhiên.

Ví dụ: Các mạch điện tử (vi mạch) lấy được từ đất hiếm tự nhiên hoặc trong các đen cũng có một số chất có thể làm các mạch điện tử.

-Đất hiếm hiện nay có nhiều ở vùng Điện Biên, Lai Châu

-Cát đen ở Bình Định, Phú Yên.

-Cát trắng ở Quảng Bình.

III.Sinh Thái và Cân Bằng Sinh Thái:

Trong sinh vật học sinh thái trở thành một ngành khoa học riêng người ta gọi là sinh thái học.

1.Hệ sinh thái:

Là hệ thống các quần thể sinh vật (thực vật, động vật và vi sinh vật) sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó.

Quần thể:

Chỉ một nhóm cá thể của bất kỳ một loài sinh vật nào trong quần xã.

Ví dụ: -Tất cả các cây bàng hợp lại thành quần thể cây bàng sống với nhau ở một khu vực.

-Tất cả cây điệp hợp lại thành quần thể cây điệp sống với nhau ở một khu vực.

-Cây điệp (trên thân cây điệp có cây tầm gửi) sống cộng sinh dựa vào nhau sống

-Ve; sống ký sinh.

        Trong tự nhiên có nhiều quần thể sống trong sinh cảnh.

Quần Xã:

Bao gồm tập hợp tất cả các chủng quần (quần thể) (động vật, thực vật, vi sinh vật) sống cùng trong một sinh cảnh hay trong môi trường đó gọi là quần xã.

        Ở quần xã mà nó tập hợp nhiều quần thể  thì gọi là đa dạng sinh học.

GV: Hầu như những người tài giỏi xuất thân từ tầng lớp trên (giàu có) vì họ đều là những người có điều kiện có tiền để nghiên cứu.

Như vậy hệ sinh thái gồm có khái niệm sau: cá thể, quần thể, quần xã.

Cá thể:là chỉ các loài riêng biệt, chứ không phải chỉ 1 con, phạm trù này nó còn tùy thuộc quan hệ mình nghiên cứu.

Ví dụ: Nếu loài người so với bò, linh dương, sư tử, gấu v.v…thì loài người là cá thể. Nếu chỉ xem xét loài người thì có 2 cá thể nam và nữ.

GV:Nghiên cứu kích thước, đồng bằng hay biển, nơi ăn, ở, ăn cái gì, làm mồi cho con gì phản ứng của chúng với điều kiện môi trường ra sau, nghiên cứu trên để làm gì?

Ví dụ người ta nghiên cứu:

-1 con cọp địa bàn kiếm ăn của nó là đường kính là 60km.     

-1 con voi địa bàn kiếm ăn và sinh sống của nó là 120km.       

        Hiện nay con người đang làm thu hẹp nơi ở của các loài vật cho nên các loài vật phản ứng lại.

Ví dụ: Trong hồ nước Hồ Tây ở Hà Nội gồm có:           -Tảo

-Giáp xác

-Tôm tép

-Cá rô, cá lóc

-Con rái cá, con rắn nước.

-Chim Bói cá.

Giả sử trong hồ nước này có những sinh vật như trên:

+Tảo: là thực vật là thức ăn cho loài giáp xác, giáp xác là thức ăn cho tôm tép, tôm tép là thức ăn của cá rô, cá lóc, cá rô và cá lóc là thức ăn của rái cá, rắn nước.

Nếu trong môi trường đó tôm tép chết hoặc không có, lúc đầu bị khủng hoảng hoặc mất cân bằng dần dần không hồi phục sẽ mất cân bằng tất cả, từ chổ mất cân bằng sinh thái ở một bộ phận dẫn đến mất cân bằng sinh thái tất cả toàn bộ môi trường hồ nước đó.

Cấu trúc hệ sinh thái bao gồm 4 thành phần cơ bản:

-Môi trường  (E).

-Vật sản xuất (P).

-vật tiêu thụ (C).

-Vật phân hủy (T).

Vật sản xuất (P):

Như vật một vật vừa là vật sản xuất đồng thời vừa là vật tiêu thụ.

Ví dụ khởi đầu tảo là vật sản xuất, nhưng đối với giáp xác thì tảo là vật sản xuất còn giáp xác là vật tiêu thụ, nhưng đối với tôm tép thì giáp xác là vật tiêu thụ.

Vật phân hủy (T):là vi khuẩn nấm chúng sống nhờ vào các sinh vật chết  bằng cách chúng phá vỡ các hợp chất hữu cơ đơn giản mà cây xanh có thể sử dụng được.

Ví dụ:  cành cây chết nhờ vật phân hủy           chất hữu cơ. (nhờ nấm nhờ vi khuẩn phân hủy thối rửa phá hủy hợp chất hữu cơ phức tạp thành các chất hữu cơ, vô cơ đơn giản cây hấp thu

Ví dụ: Con heo chết nếu không có nấm và vi khuẩn thì nó không bao giờ thối được, nó phân hủy thành những chất hữu cơ phức tạp tạo thành con heo đó thành chất hữu cơ đơn giản như kali, đạm v,v… và cây xanh sẽ hút chất đó.

        Nếu không có vi khuẩn và nấm thì con người không sống được, vì chết cứ chất đầy.

GV: Hiện nay trên thế giới có 53 trường hợp thú nuôi người: sư tử, hắc tinh tinh, chó sói. Và đại đa số những trường hợp này sau khi về lại với xã hội loài người đều chết.

        Trong sinh vật học nó có chọn lọc tự nhiên.

 Người ta nghiên cứu trên Sa mạc ở Châu Phi con cọp đẻ ra 2 con cọp con nhưng con của nó nếu con nào ốm yếu nó sẽ ăn thịt luôn. Cho nên sau này con nào trưởng thành nó rất khỏe, đó là chọn lọc tự nhiên.

Ví dụ: Ở vùng Nam Mỹ người ta thấy 1 con Hắc Tinh Tinh ôm đứa con người ta bắn con mẹ chết thì thấy đứa con nó đang nuôi đó là đứa bé trai           đây là hiện tượng tâm lý, và đây cũng báo hiệu là con người chúng ta xâm hại môi trường tự nhiên của vật quá nhiều.

2.Cân bằng sinh thái:

Các hệ sinh thái tự nhiên đều có khả năng tự điều chỉnh riêng, nhưng nếu vượt quá giới hạn này, hệ sinh thái sẽ mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là hệ sinh thái bị phá vỡ. Đó là sự cân bằng giữa vật sản xuất và tiêu thụ và vật phân hủy (vi khuẩn), sự cân bằng này người ta gọi là cân bằng sinh thái.

Ví dụ: Con người sống ở vùng xích đạo thì làn da cũng tự điều chỉnh cho thích hợp.

Hệ sinh thái tự nhiên có đặc điểm là tự cân bằng nghĩa là một khi bị thay đổi vì một nguyên nhân nào đó thì nó có thể tự phục hồi để trở về trạng thái ban đầu. Sự phục hồi cân bằng sinh thái được thực hiện qua các cơ chế sau:

a.Cân bằng thông qua sự điều chỉnh số lượng quần xã:  

Đối với động vật, sự điều chỉnh này được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau:

-Điều chỉnh bằng cách kìm hãm và hạn chế lẫn nhau.

Ví dụ: tất cả những loài ăn thức ăn hẹp (nó chỉ ăn 1 loại đó thôi) loài chỉ ăn cỏ như trâu, bò, có bộ phận phân hủy chất xơ, thường dạ dày của nó có 4 ngăn, ăn no rồi ợ lên nhai lại. Dạng cỏ có vi khuẩn lên men, nếu cỏ bình thường không sao, nếu cỏ bị ô nhiễm thì trâu bò sẽ bị nhiễm và trướng bụng, nằm 1 chỗ sẽ chết.

Sự cân bằng của nó là điều chỉnh các quần thể.

Ví dụ: Nếu đồng cỏ nhiều thì linh dương, bò rừng phát triển rất nhiều và nó sinh sản vào thời kỳ này rất nhiều, nếu đồng cỏ ít thì nó sẽ chết hoặc đi sang môi trường khác sống.

Ví dụ; Chuột nhắt khi số lượng quá nhiều sẽ phát sinh loại bệnh “sốc” chết để đảm bảo lượng đàn.

-Sự điều chỉnh này có thể thông qua các hình thức như giảm mức sinh sản, tăng tỷ lệ tử vong, cạnh tranh, di cư, thậm chí ăn thịt lẫn nhau.

Ví dụ:

-Di cư theo chu kỳ.

Ví dụ con linh dương sẽ di cư sang nơi khác để kiếm ăn, vì vậy khi di cư sẽ bị những thú ăn thịt khác ăn thịt, sẽ giảm số lượng đàn để cân bằng đàn.

b.cân bằng thông qua mối quan hệ phụ thuộc giữa các loài trong thiên nhiên:

 Ở cơ thể một số con thú ăn cỏ có rất nhiều sinh vật sống kí sinh anh này nhờ anh kia để tồn tại, là kẻ thù của nhau nhưng không rời bỏ nhau.

Ví dụ: -trên thân của con bò ở ngoài cánh đồng có con chim sáo hay rỉa vì có những con cháy, con rận.

-Trong bộ lông của nó có các loài rận hoặc ve hút máu.          

-Trong ruột của chúng có cả một hệ sinh vật phong phú như giun sán.

Sự mất cân bằng trong hệ sinh thái, lúc đầu thường xảy ra cho vài thành phần sau đó mở rộng sang thành phần khác và có thể đi từ hệ sinh thái này sang hệ sinh thái khác.

Sự tự điều chỉnh của hệ sinh thái là kết quả của sự tự điều chỉnh của từng cơ thể, của những quần chủng, của quần xã mỗi khi một nhân tố sinh thái thay đổi. Chúng ta, chia các nhân tố sinh thái thành 2 nhóm: (nhân tố sinh thái giới hạn; nhân tố sinh thái không giới hạn)

IV.Quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên:   

1.Con người tồn tại như một bộ phận của tự nhiên

Môi trường tự nhiên có trước và con người sống trong môi trường tự nhiên, con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng chính một bộ phận của tự nhiên này đã tác động quá nhiều lên môi trường tự nhiên.

-Người nguyên thủy lúc đầu săn bắn hái lượm tự nhiên không suy nghĩ, nhưng sau này do sự phát triển .

-Mất cân bằng sinh thái là do bùng nổ dân số.

+Nước phát triển: dân số già như Nhật Bản.

+Nước đang phát triển và kém phát triển: dân số trẻ, bệnh tật nhiều, vì vậy đẻ nhiều dự phòng chết (bệnh tật và chiến tranh).

GV:Theo ý chủ quan của Thầy Cô dân số Việt Nam là dân số trẻ hay già?

TL: Thanh niên trẻ con rất nhiều, có sức lao động, nhưng thất nghiệp, một người làm nuôi nhiều người. Bênh viện, nhà trẻ, trường học phải nhiều.

-Vấn đề công nghiệp phát triển có 2 mặt (1.đem lại công việc làm; 2.phá hại môi trường), nhu cầu nhà ở tăng lên, phá cây xanh, ô nhiễm môi trường, còn vấn đề an ninh xã hội trở thành xã hội công nghiệp.

Tóm lại:

Để tồn tại và phát triển, con người đã không ngừng tác động vào thiên nhiên, khai thác thiên nhiên, muốn làm thay đổi cả quy luật tự nhiên…Song nên hiểu rằng, loài người tồn tại như là một bộ phận của tự nhiên nhưng họ sẽ không có tương lai nếu như thiên nhiên và tài nguyên không được bảo vệ…Vì vậy, trách nhiệm của con người trước thiên nhiên cũng chính là trách nhiệm đối với hạnh phúc của bản thân mình…

V.Tài nguyên khoáng sản-các rặng san hô và rừng ngập mặn:

Sự sống trên trái đất có được là do sự kiến tạo của các rặng san hô.

-Rừng ngập mặn Cần Giờ được đánh giá rất cao làm cho phù sa bồi dần (Bến Tre, Ba tri, Rừng Cát Tiên).

-Rừng Cúc Phương: khẳng định khu vực Đông Dương của chúng ta trước đây có khủng long sống ở đó giờ đã hóa thạch.

-Tài nguyên nước ngầm: tại TPHCM mỗi năm sẽ bị lún 2cm là một tai họa do khai thác nước ngầm./.

 

CHƯƠNG II:

IV.Ô nhiễm Môi trường Nước:

Những khái niệm cơ bản về ô nhiễm môi trường nước:

Định nghĩa:

Nước bị ô nhiễm khi tính chất lý học, hóa học và điều kiện vi sinh của nước bị thay đổi. Sự thay đổi này có tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước:

1.Nước thải sinh hoạt:

Hay nước thải từ khu vực dân cư, bao gồm nước thải từ:


-Các hộ gia đình                    

-Khách sạn                                            

-Trường học

-Cơ quan

-Doanh trại quân đội

-Bệnh viện


Đặc điểm cơ bản của các loại nước thải sinh hoạt này là:

-Có hàm lượng chất hữu cơ rất cao, nhưng không bền vững dễ phân hủy trừ carbonhydrat (chất xơ), protein (đạm), mỡ (lipid) những chất này khó tan trong nước.

-Các chất dinh dưỡng (phosphat, nitơ).

-Nhiều vi trừng vì môi trường hữu cơ nên có nhiều vi trùng cư trú.

-Nhiều chất rắn.

 

 

2.Nước thải công nghiệp:

(hay còn gọi là nước thải của các khu vực sản xuất) bao gồm:

-Nước thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất lớn.

-Nước thải từ các cơ sở sản xuất nhỏ.

-Nước thải từ các khu vực giao thông vận tải…

Đặc điểm:

Nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung mà phải dựa vào tính chất công việc của từng xí nghiệp mà định.

Ví dụ:

-Nhà máy làm acqui thì nước thải sẽ có acid, thì…

-Nhà máy chế biến sữa, thịt, đường, tôm đông lạnh, nước ngọt, rượu bia thì nước thải sẽ chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy.

-Nước thải nhà máy thuộc da, ngoài chất hữu cơ còn nhiều kim loại nặng, sulfua (so4) có lưu huỳnh. Ví dụ măng vàng là có rất nhiều lưu huỳnh.(nên dùng măng tươi).

Một đặc điểm cần chú ý là nước thải từ bất cứ một nhà máy xí nghiệp nào cũng đều bao gồm:

-Nước thải sinh hoạt.

-Nước thải do sản xuất công nghiệp.

-Nước thải do mưa rất nguy hiểm. ví dụ con chuột, con mèo chết bị quăng ra đường phố một chút sau không thấy đâu do xe qua lại cán nát thành bụi mưa xuống là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.

3.Nước chảy tràn trên mặt đất:

-Có thể do vỡ đường ống dẫn nước, do mưa rơi xuống: mặt đất, đường phố, nhà cửa…, đồng ruộng có nhiều thuốc trừ sâu.

-Do nước tiêu (thải) từ các đồng ruộng.

Đặc điểm:   -Chưa nhiều chất rắn.

 -Nhiều vi trùng          

 -Nhiều thuốc trừ sâu, phân bón…

  

4.Nước do yếu tố tự nhiên:

Do nhiễm phèn, nhiễm mặn.

 

*Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường nước:

 Có hàng trăm hàng ngàn tác nhân gây nên ô nhiễm nước. Người ta chia ra có 8 loại cơ bản sau đây:

Loại 1:các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học hoặc các chất tiêu thụ Oxy. Ví dụ vi khuẩn hoặc để nó mục nát ra.

 

Loại 2:các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học.

Đây là các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học thường là những chất hữu cơ có độc tính cao, trong đó có túi nilon (50-60-100 năm mới phân hủy).

Một số có tác dụng tích lũy và tồn lưu lâu dài trong môi trường và trong cơ thể thủy sinh vật (rong, rêu, tảo), từ đó dẫn đến ô nhiễm lâu dài đồng thời tác hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái dưới nước. Thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng.

Một số chất hữu cơ bền vững có độc tính cao đó là:

-PCP (polyclorophenol)

-PCB (polyclorobiphenol)

-Các hydratcarbon đa vòng ngưng tụ. (hợp hữu cơ khó phân hủy).

-Hợp chất dị vòng N và O.

-Các thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ (vô cơ, hữu cơ).////

 

Một số chất tiêu biểu của các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học:

 

Cảnh báo

1.Hóa chất bảo vệ thực vật với vấn đề ô nhiễm môi trường.

Có rất nhiều loại và bao giờ cũng có clo(cl-)

Thuốc BVTV nào cũng có 2 gốc DDT và 666 cực độc.

Clo:cực độc, người khi bị nhiễm độc clo vào máu sẽ làm thay đổi hồng cầu chúng ta (hồng cầu lưỡi liềm), chất độc trong cơ thể không thải ra được, tích tụ dần dần bị trụy tim mạch và chết.

DDT:thuốc trừ sâu, nguyên tắc phun thuốc trừ sâu rồi phải 7-8 ngày sau mới được thu hoạch.

666 (Hecxanclora):cực độc, hiện nay quốc tế cấm.

Hiện nay, trên thế giới HCBVTV ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp để bảo vệ cây trồng và đảm bảo năng suất cây trồng được mùa cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người…

Nói chung, HCBVTV bao gồm:

-Thuốc trừ sâu (insecticide)

-Thuốc trừ bệnh:         Nấm (fungicide)

                                    Vi khuẩn (bactericide)

-Thuốc trừ cỏ (herbicide)  

-Thuốc trừ rong tảo (algicide) làm bít kín các đường ống dẫn.

 

Các chất hóa học này tập trung chủ yếu vào 3 nhóm sau:                    

A.Nhóm clo hữu cơ (Chlorinated hydrocarbons).

Bao gồm những hợp chất hóa học rất bền vững trong môi trường tự nhiên và có thời gian bán hủy kéo dài, ví dụ DDT (Dicloro Diphenyl Trichloroethane) có thời gian bán phân hủy trong môi trường tự nhiên tới 20 năm. Các chất này dần dần được tích lũy trong chuỗi thức ăn (con bò ăn cỏ, cỏ bị nhiễm DDT, cỏ vào cơ thể con bò, bò nhiễm chất này, con người ăn bò con người nhiễm luôn) của các hệ sinh thái, trong các mô dự trữ của sinh vật.

Nhóm thuốc này gây nhiều mối lo ngại nhất hiện nay vì khi chúng đi vào cơ thể sinh vật chúng sẽ được tích lũy lại và ít được đào thải ra ngoài.

Đại diện cho nhóm thuốc này là: Aldrin, Dieldrin, DDT, Lindane, Heptachlor, Heptachlor Epoxide, Endrin, nhưng chủ yếu là DDT.

B.Nhóm lân hữu cơ (organic phosphates)

Bao gồm 2 hợp chất  là Parathion và Malathion. Nhóm thuốc này có thời gian bán phân hủy nhanh, nhưng độc tính rất cao. Khi nhiễm lân hữu cơ gây cho người ta khát nước, khi uống nước vào nó tan chảy và làm trụy tim mạch.

C.Nhóm Carbamat:ít bền vững

Gồm những hóa chất ít bền vững với trong môi trường tự nhiên song có độc tính cao đối với người và động vật, tác hại lên hệ thần kinh.

Thuốc trừ sâu diệt cỏ xâm nhập vào các nguồn nước bằng nhiều con đường:

-Do nước rửa trôi bề mặt đất nông nghiệp

-Do gió thổi khi đang phun, khi phun thuốc trừ sâu đứng đầu ngọn gió, và phun vào buổi sáng và buổi tối, mặc áo bảo hộ.

-Những hạt bụi trong không khí nhiễm thuốc trừ sâu và lắng đọng xuống.

 

Người nhiễm độc do HCBVTV.

-Cá và các động vật khác nhiễm độc rồi chết.

-Trong đất HCBVTV thường gây hại cho nhiều loại sinh vật có ích, các vi sinh vật đất phân hủy chất thải, thay đổi kết cấu chất hữu cơ.

 

Thường xuyên tiếp xúc với thuốc BVTV cần chú ý:

Đối với thuốc trừ sâu nhóm phospho hữu cơ (lân hữu cơ): Đây là loại thuốc phân giải nhanh, không tích lũy trong cơ thể nhưng rất độc và nguy hiểm. Do đó đa số là ngộ độc cấp tính và gây tử vong nhanh.

Lưu ý: khi gặp người bị nhiễm thuốc BVTV, chúng ta cần chữa cấp cứu trước khi đến bệnh viện bằng cách: đậu xanh đập dập hòa với nước cho cho uống, cho uống sữa, cho uỗng nước vôi tôi, hoặc uống lòng trắng trứng, làm cho người nhiễm ói ra càng nhiều càng tốt.

Người nhiễm độc mãn tính:   -Bị nhức đầu

-Choáng váng.

-Đau hai bên thái dương.

-Giảm trí nhớ, mệt mỏi, ngủ không được.

-Chóng mặt, ăn không ngon.

Khi nặng thì:                       

-Rối loạn tinh thần và trí tuệ, khó nhận biết.

-Run tay, run giật nhãn cầu.           nhanh đến trung tâm y tế

-Viêm thần kinh, liệt thần kinh.         Chữa.

-Da bị sần, ngứa, chàm.

+Đối với thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ: các thuốc này phân giải khá chậm, tích lũy lâu trong cơ thể chủ yếu ở mô mỡ do đó dễ gây ngộ độc mãn tính với các biểu hiện chính ở hệ thần kinh.        

Người ngộ độc mãn tính có cảm giác:

-Khó chịu, đứng ngồi không yên. 

-Chuột rút, run tay chân.

-Ngoài da nổi ban đỏ, mụn nước.

-Ban xuất huyết do giảm tiểu cầu, xét nghiệm thấy mất bạch cầu đa nhân.

+Đối với các loại carbamat

Độc tính của loại này là trung gian của hai loại trên.

Thường xảy ra ngộ độc cấp tính và bán cấp hơn là mãn tính.

+Đối với phospho hữu cơ (ví dụ methyl parathion) < 0,1 mg/m3.

+Đối với nhóm clo hữu cơ (nồng độ DDT tối đa cho phép) < 2 mg/m3.

 

2.Phênol (C6H5OH):

Đặc tính của phenol là chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học số 2.

Phenol là một loại chất gây ô nhiễm có mặt trong nguồn nước thải của các ngành công nghiệp luyện kim đen, luyện than cốc (luyện thêm 1 lần nữa), công nghiệp dệt…

Phenol còn có trong nước bùn thải của nhà máy luyện than cốc, hàm lượng phenol thường từ 28,4 – 45,1 mg/kg bùn.

Phenol làm cho nước có mùi đặc biệt nhất là khi kết hợp với clo và tạo thành clorophenol có mùi làm buồn nôn.

 

3.Tannin và lignin: (đọc TK)

Tannin và lignin là xơ, có mùi chát, tác dụng chống tiêu chảy, nếu dùng nhiều gây táo bón.

 

Loại 3: Các chất vô cơ (rất độc)

Vô cơ tồn tại dưới dạng ion có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là nước biển có nhiều chất vô cơ.

Trong nước thải từ các khu dân cư luôn có một lượng khá lớn các ion Cl-, SO4 2-PO43-, Na+, K+.

Trong nước thải công nghiệp ngoài các ion trên còn có các chất vô cơ có độc tính cao như Hg, Pb, Cd, As, Sb, Cr, F…

 

Một số chất vô cơ tiêu biểu trong nước thải

1.Amoni (NH4+):

N: là nitơ

NH3: là amoniac có mùi khai (nước tiểu) từ chất này bắt đầu chuyển thành (NH4+)

2.Nitrat (NO3)

Gốc (NO3) có 3 loại: 1. NO2 (Nitrit); 2. NO (dioxitnitơ) rất độc; 3. Nitrat có trong tự nhiên.

Ô nhiễm nước bởi nitrat (NO3) và các muối của nitrat  (nitrit là muối của nó).

Nitơ là loại khí có rất nhiều trong khí quyển.

Trong tự nhiên nitơ tồn tại dưới những dạng khác nhau:

-Nitrat (NO3)

-Nitrit (NO2)

-Ammoni (NH4)

-Và các dạng hữu cơ khác.

Nitơ tồn tại với một lượng thích hợp thì nó hết sức cần thiết nhưng với một lượng lớn nitrat (NO3) tồn tại sẽ gây một tác động dây chuyền trong hệ thống sinh thái nước:

Nếu nitơ tồn tại dưới dạng nitrat với một lượng thích hợp ở trong không khí, khi có nguồn nặng lượng cung cấp cho nó nó biến thành đạm tự nhiên, khi có mưa giông sấm xét thì nitơ biến thành đạm tự nhiên, đạm này rất dễ tiêu.

 

GV: Hãy giải thích cơ chế khoa học sau đây qua câu Ca dao:

Lúa chiêm lấp ló ngoài bờ

Nghe thấy tiếng sấm mở cờ mà lên.

Ngày xưa cha ông ta cấy lúa chỉ có 2 vụ thôi, 1 vụ 6 tháng.

Vụ mùa: cấy vào lúc nắng nóng, thu hoạch tháng 9-10 giáp tết

Vụ chiêm: cấy lạnh nhưng thu hoạch tháng nóng 

“Lúa chiêm lấp ló ngoài bờ” như con gái

“Mở cờ mà lên” là do nó thay đổi từng ngày từng giờ

 

Nguyên nhân dẫn đến sự có mặt NO3và muối nitrat ở trong nước:

-Từ nguồn nước thải sinh hoạt.

-Do các chất sử dụng trong công nghiệp như:      Nitrat kali               

Ammoni kali nitrat

-Nước thải từ các trại chăn nuôi

-Do cấu tạo địa chất có các vỉa:        Kali nitrit (KNO2)

Natri nitrit (NANO2)

 

Ảnh hưởng của NO2, NO3đối với cơ thể con người  (quan trọng)

NO2, NO3xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách:

-Nước ô nhiễm đi vào cơ thể, tức uống nhầm nước thải.

-Ở trong thực phẩm những hoa quả, rau củ có chứa hàm lượng NO2, NO3vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

NO: gốc phân đạm, người ta chế ra phân đạm để bón cho cây, rau non xanh tốt, trái cây to, người ăn vào nó đi vào trong cơ thể, cho nên rau, trái cây đầu vụ, nó chứa rất nhiều chất này, do đó không nên ăn rau quả non đầu vụ dẫn đến nhiễm phân đạm gây ung thư.

Trong bảo quản thực phẩm, người ta sản xuất các loại “xúc xích” thường bỏ một ít nitrit natri (NaNO2) để cho “xúc xích” có màu đỏ đẹp…Nhưng nếu lượng NaNO2này vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì vô cùng độc.

Trong các loại hao quả, củ…người trồng trọt muốn đạt một năng suất, một sản lượng lớn đã bón một lượng phân vượt tiêu chuẩn trong một thời gian ngắn. Lượng NO3biến thành dư thừa rồi con người  ăn những sản phẩm đó cuối cùng dẫn đến những hậu quả không lường.

Ví dụ: có cây kiểng bón phân NPK nhiều quá đất bị chua cây chết, phải thay đất.

 

 

Cơ chế ngộ độc nitrat (NO3) và các muối nitrat:

Các nitrit như kali nitrit (KNO2), natri nitrit (NaNO2) đều gây ngộ độc bằng oxy hóa sắt nhị (Fe2+của hemoglobin) trong máu thành sắt ba (Fe3+của methemoglobine).

Riêng natri nitrit (NaNO2) còn có thể gây tử vong bằng cách trụy tim mạch.

 

Thi:Nếu ăn nhiều rau xanh mà bón nhiều phân đạm sẽ dẫn đến ung thư ruột kết.

 

Hoàn cảnh ngộ độc cấp tính:

Nạn nhân tưởng diêm tiêu (kali nitrat) là muối ăn hay đường ăn.

Trẻ em rất nhạy cảm và có thể ngộ độc rất nặng cho dù lượng ít nitrat hay nitrit ở trong nước giếng hoặc ở trong rau quả cũng dễ dẫn đến ngộ độc. Vì vậy, tuyệt đối không nên cho các cháu dưới 6 tháng tuổi ăn uống nước rau quả có bón nhiều phân hóa học.

Triệu cứng ngộ độc cấp tính: đọc

 

3.Phosphat:

Ở trong nước, nó là sinh vật thủy sinh rong rêu tảo phát triển rất mạnh gây tắt các đường ống dẫn nước.

 

4.Sulphat (SO4)

Có nhiều trong nước biển, và nước phèn, nồng độ Sulphat cao làm cho nước chua.

 

5.Clorua (Cl-)

Tiếng Hy Lạp là “Chloros” nghĩa là vàng lục.

Hàm lượng của Clo trong vỏ trái đất là 1,7 x 10-2 về mặt khối lượng chiếm khá nhiều trong vỏ trái đất

Đặc tính Clo là khí nặng, nặng hơn không khí đến 2,5 lần, clo hóa lỏng ở -34,05oC và hóa rắn ở -101oC

-Ở vùng thun lũng Clo nằm sát dưới, giếng Clo nằm đáy giếng  XTSGK/

 

Ba thảm họa

 Trên thế giới hiện nay con người đứng trước 3 thảm họa đó là mưa acid, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, cạn kiệt tầng ozone.

1.Mưa Acid:

-Nước mưa nguyên chất có độ PH= 5,0 bởi vì các chất hòa tan được bao gồm CO2.

-Khi không khí bị ô nhiễm là do hoạt động công nghiệp do giao thông vận tải thì nước mưa độ ph giảm thấp chỉ còn ph=2,0 – 2,5, trong trường hợp này người ta gọi là mưa acid.

Nguyên nhân mưa acid: có 4 nguyên nhân

1.Do đốt nhiên liệu hóa thạch như than đá, do nhiên liệu hóa thạch chứa lưu huỳnh khi cháy lưu huỳnh biến thành sulfuarơ ở trong không khí kết hợp với nước trở thành H2SO4.   

2.Do một số loại quặng đồng có chứa nhiều lưu huỳnh khi khai thác.

3.Do hoạt động của núi lửa thải ra bầu không khí khá nhiều khí sulfuarơ.

4.Do sự mục nát của các loại thực vật chủ yếu là do hoạt động công nghiệp nhiệt điện, giao thông vận tải.

Hậu quả của mưa acid:

Mưa acid trút xuống các ao hồ, thủy vực, các động vật thủy sinh chết (những đìa tôm sẽ bị chết), làm cho những đọt cây bị quăng lại giảm năng suất cây trồng, giảm tuổi thọ xe máy, nước có mùi hôi  khó chịu, sử dụng nước mưa này có hại cho sức khỏe.

Khắc phục:

-Núi lửa hoạt động ta chỉ hạn chế tác động của nó

-Hạn chế khai thác các quặng đồng.

-các nhà máy xí nghiệp nên sử dụng công nghệ mới

-Hạn chế phương tiện cá nhân, nên đi phương tiện công cộng như  xe buýt.

 

2.Hiệu ứng nhà kính:

Trái đất nó ấm ở nhiệt độ mà con người sống được là do sự bức xạ của mặt trời và do khí CO2trong không khí giữ lại lượng bức xạ đó, nếu không có cơ chế này thì trái đất sẽ ở thời ký băng hà âm 8oC, con người không thể sống được, nhưng trong không khí hàm lượng CO2tăng lên nó hấp thu nhiều bức xạ mặt trời làm trái đất nóng lên vượt qua ngưỡng hiệu ứng nhà kính, người ta gọi là hiện tượng nóng lên của trái đất.

*Một số chất khí trong hiệu ứng nhà kính:

CO2, CFC, CH4, O3, NO, trong đó CO2và CFC do con người sản sinh ra.

Nguyên nhân của việc gia tăng nồng độ hiệu ứng nhà kính:

-Do đốt nguyên liệu hóa thạch thải ra rất nhiều CO2trong khí quyển

-Làm thủy điện tàn phá rừng, làm lượng CO2tăng lên.

-Do canh tác của con người khai hoang, phác hóa, đốt rừng làm nơi trồng trọt, xây nhà ở.

-Do khai thác các khí thiên nhiên.

-Do đốt rừng sinh ra nhiều khí CFC, CH4, CO2.

-Do việc sử dụng các nguyên liệu hóa thạch bừa bãi, đốt lò làm than tổ ong bán.

Hậu quả của việc trái đất nóng lên:       

-Trái đất nóng lên làm thay đổi các lớp phủ thực vật toàn cầu.

-Làm thay đổi thủy văn (thay đổi lượng thủy triều)

-Trái đất nóng lên làm cho những vùng có băng vĩnh cửu bắt đầu tan chảy (Bắc Băng Dương), nước biển dâng cao gây ngập lụt, băng tan làm hàm lượng muối của nước biển giảm đi làm cho đời sống của thực vật và động vật tuyệt chủng.

-Trái đất nóng lên làm cho nhiệt độ tăng lên làm thay đổi các trung tâm mưa hoặc làm hạn hán.

-Làm thay đổi chủng loài trong hệ sinh thái.

-Làm cho sâu bọ phá hoại phát triển rất nhanh.

-Làm xuất hiện nhều dịch bệnh mới.

-Đặc biệt là muỗi gây bệnh sốt rét phát triển rất mạnh.

-Bệnh dịch tả viêm cuống phổi, nhức đầu, bệnh ngoài da tăng mạnh.

Biện pháp:

-Trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, hạn chế phương tiện cá nhân.

 

3.Cạn kiệt tầng Ozone:

-Ozone được hình thành trong cái tầng bình lưu do bức xạ của mặt trời, cho nên trong quá trình quang ly (phản ứng có bức xạ mặt trời), một phân tử oxy bị phân rả ra thành hai nguyên tử oxy, sau đó nguyên tử oxy kết hợp với phân tử oxy tạo thành ozone.

-Ozone được hình thành nhiều nhất ở vùng xích đạo và đới xích đạo (vì vùng này nó nhận được nhiều ánh sáng mặt trời cho nên quá trình quang ly rất mạnh, từ đó ozone tỏa về 2 cực của trái đất, cho nên tầng ozone dầy nhất là ở vùng xích đạo 18 km, và mỏng nhất là ở 2 cực Bắc và Nam 8 km.

-Ozone có một tác dụng người ta ví nó như một áo giáp để che chở trái đất chống lại tia cực tím của mặt trời.

-Người ta thấy rằng tia cực tím của mặt trời gây bệnh ung thư da.

-Tia cực tím của mặt trời gây mù lòa vĩnh viễn không thể chữa được.

-Gây ra việc tiêm chủng không tác dụng sức đề kháng kém.

-Gây tác hại cho gen di truyền, biến đổi AND, sinh con quái thai.

-Tăng hiện tượng sương mù, mưa acid làm gai tăng các bệnh về hô hấp.

-Ảnh hưởng xấu về mùa màng năng suất giảm.

-Các loại sinh vật biển bị hủy hoại.

-Làm cho thực vật còi cọc không phát triển được.

-Làm tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính.

Nguyên nhân cơ bản phá hủy tầng ozone:

-Chất thải của những hạm đội của máy bay siêu âm, máy bay chiến đấu, máy bay khách thải ra oxitnitrit.

-Do chất hóa học CFC chất tẩy rửa (làm trong công nghệ lạnh), chất chóng cháy tạo bọt và những chất hóa học khác.

-Do hoạt động công nghiệp phá hủy tầng ozone.

Biện pháp:

-Hạn chế hoạt động công nghiệp thải oxitnitrit vào không khí./. 

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này