Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
11:01, Thursday.May 07 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN VĂN HỌC MỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975
Cập nhật : 18/06/2013 - Đã xem : 98,423 lần

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN VĂN HỌC MỚI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945-1975

                                                                                      NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

          Nền văn học mới ra đời từ cách mạng tháng Tám đến nay đã đi trọn một giai đoạn lịch sử, giai đoạn 1945-1975. giai đoạn này kết thúc cùng với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Từ 1975 đến nay nó là bước sang một giai đoạn mới.

          Muốn hiểu rõ những đặc điểm của giai đoạn văn học 1945-1975 và đánh giá đúng những thành tựu của nó, cần đặt 30 năm văn học ấy trong hoàn cảnh đặc biệt mà nó đã sinh ra, tồn tại và phát triển.

          Hoàn cảnh ấy là: nó đã trải qua một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong hoàn cảnh đó, quan hệ quốc tế của nó chủ yế thu hẹp trong vùng ảnh hưởng của phe Xã hội Chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc. Ngoài ra đây cũng là giai đoạn mà nền văn học ở bước đầu xây dựng theo mô hình mới, chưa có kinh nghiệm bao nhiêu, do đó khó tránh khỏi những lệch lạc ấu trĩ.

          Đề cập đến đặc điểm của giai đoạn văn học 1945-1975, trước hết cần xác định: khi nói đặc điểm cơ bản của một giai đoạn văn học thì đặc điểm ấy phải được rút ra từ sự khảo sát bản thân nền văn học trong giai đoạn lịch sử ấy, chứ không phải gán cho nó những nhãn hiệu theo mong muốn chủ quan củ mình. Những đặc điểm nếu thực sự là cơ bản thì phải thể hiện một cách có hệ thống ở giai đoạn văn học ấy. Cố nhiên vẫn có thể có những yếu tố ngoại lệ, phi hệ thống, nhưng đấy không phải là những yếu tố phổ biến và chiếm ưu thế. Đã gọi là đặc điểm cơ bản phải gắn mới dòng chủ lưu, dòng chính thống trong giai đoạnv ăn học. Những đặc điểm ấy lại phải có quan hệ chặt chẽ với nhau tuân thủ theo qui luật nội tại, chứ không thể chỉ là những yếu tố ngẫu nhiên, rời rạc xếp cạnh nhau. Chúng phải so sánh được giai đoạn văn học từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến diện mạo trong quan hệ thống nhất. Và tất nhiên, đặc điểm cơ bản của một giai đoạn văn học phải giúp phân biệt được giai đoạn văn học ấy với những giai đoạn trước và sau nó.

          Xuất phát từ quan niệm ấy, chúng tôi cho rằng văn học Việt Nam giai đoạn văn học 1945-1975 có 3 đặc điểm cơ bản:

1.     Một giai đoạn văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu

          Cách mạng tháng Tám thành công. Sau hơn 80 năm nô lệ, dân tộc giành độc lập tự do. Cả nước được cuốn vào một không khí chính trị sôi nổi với niềm vui của những người lần đầu tiên được làm chủ đất nước mình. Họp đoàn thể. Tập tự vệ. Chào cờ đỏ sao vàng. Hát “Tiến quân ca”, “Diệt phát xít”. Con người được hâm mộ nhất lúc bấy giờ là người ở chiến khu về, là cán bộ Việt Minh, chiến sĩ giải phóng quân. Nhiều ngôn từ chính trị lúc bấy giờ được coi là dấu hiệu đẹp và sang của người giác ngộ Cách mạng, của con người mới. Người ta thích sinh hoạt chính trị, thích nói chính trị, thích gọi nhau là đồng bào, đồng chí để tỏ rằng tất cả cùng chung một Tổ quốc, cùng giác ngộ lý tưởng Cách mạng và cùng là con người mới của thời đại mới…

          Độc lập tự do vừa giành được chưa bao lâu, giặc Pháp lại trở lại, rồi giặc mỹ kéo vào. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, cái huyệt thần kinh nhạy cảm nhất của người Việt Nam bị chạm mạnh. Cả nước đứng dậy, tất cả sẵn sàng chống giặc, sẵn sàng tự tay mình đốt nhà, phá nhà để “vườn không nhà trống”. Thanh niên tình nguyện vào bộ đội, sẵn sàng chịu mọi gian khổ thiếu thốn, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng. Lợi ích Tổ quốc trên hết, mà lợi ích Tổ quốc trước hết là vấn đề chủ quyền, là chế độ mới cần giữ lấy, nghĩa là lợi ích chính trị chung của cả cộng đồng dân tộc. Mọi lợi ích khác đều tạm thời phải xếp lại, phải hi sinh, trong đó có lợi ích của văn học nghệ thuật. Lợi ích cá nhân lại càng trở nên tầm thường nhỏ bé, thậm chí vô nghĩa.

          Lúc đó Đảng đề ra văn nghệ sĩ phải đứng trên lập trường kháng chiến, phải tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu, thì những cây bút chân chính đều thấy là hết sức hợp lý và hợp tình.

          Họ sẵn sàng nhập cuộc với tinh thần ấy. Nghĩa vụ công dân là cao cả nhất, thiêng liêng nhất.

          Nói chung tình cảm chủ yế của thơ ca từ năm 1945 đến 1975 là những tình cảm công dân, tình cảm chính trị tình đồng chí, tình đồng bào, tình quân dân, tình với Đảng với Bác Hồ, với Miền Nam còn trong tay giặc hay miền Bắc xã hội chủ nghĩa v.v… Những tình cảm khác không phải không được nói đến, nhưng đều được nâng lên thành tình cảm chính trị (chẳng hạn nâng tình yêu lên thành tình đồng chí), được phán xét, đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị (tình vợ chồng của chị Út Tịch chẳng hạn), hoặc phải có tác dụng tô đậm thêm, tình cảm chính trị ở người anh hùng (Hòn đất, Sống như anh v.v…). Cảm hứng chính trị trở thành một nguồn thơ lớn nuôi dưỡng nền thi ca Việt Nma suốt ba thập kỷ mà Tố Hữu là lá cờ đầu.

          Con người của đời sống cũng như trong truyện ký đều được nhìn nhận và đánh giá chủ yếu ở phẩm chất chính trị. Trước hết phải xác định ta hay địch, bạn hay thù? Nếu là ta thì trình độ giác ngộ chính trị đến mức nào? Người anh hùng hay con người mới có nghĩa là người giác ngộ lý tưởng chính trị cao nhất. Trong truyện ngắn, tiểu thuyết, có một hình tượng trở thành mô típ phổ biến: nhân vật người Đảng (A Châu trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh Thế trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, chị Ba Dương trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái v.v…). Đó là nhân vật cần thiết phải có mặt để nâng sự giác ngộ chính trị của người anh hùng lên trình độ cao nhất…

          Trong giới phê bình văn học chủ yếu tiêu chuẩn chính trị muốn trở thành một tiêu chuẩn mỹ học cao nhất. Nhiều nhà phê bình coi tiêu chẩn chính trị như tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các tác phẩm văn học.

          Văn học phục vụ chính trị nên quá trình vận động phát triển hoàn toàn ăn nhịp với từng bước đi của cách mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: ca ngợi Cách mạng và cuộc sống mới (1945-1946); cổ vũ kháng chiến, théo sát từng chiến dịch, biểu dương các chiến công, phục vụ cải cách ruộng đất (1946-1954); ca ngợi thành tựu khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (hợp tác hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa); phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1965); cổ vũ cao trào chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc (1964-1975).

          Tất nhiên, đối với một giai đoạn văn học phục vụ kháng chiến, nhân vật trung tâm của nó phải là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường: bộ đội, giải phóng quân, dân quân du  kích, dân công, giao liên, thanh niên xung phong v.v… Đó là những con người đứng mũi nhọn nóng bỏng nhất của cuộc chiến đấu vì lợi ích chính trị thiêng liêng của Tổ quốc: độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

2.     Một giai đoạn văn học hướng về đại chúng, trước hết là công nông binh.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Viết cho ai? – Viết cho đại đa số; công nông binh. Viết để làm gì? – Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng[1].

          Cách mạng và kháng chiến phải dựa hẳn vào công nông và trước hết nhằm giải phóng công nông. Cho nên văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất phải hướng về công nông binh. Đây là đối tượng phản ánh, là công chúng văn học, là lực lượng sáng tác. Đó là phương hướng cơ bản xác định nội dung và hình thức của văn học giai đoạn 1945-1975.

          Quan điểm văn nghệ này của Đảng cũng được các nhà văn chấp nhận một cách tự giác. Bởi vì họ là những trí thức yêu nước. Họ không thể không cảm phục nhân dân lao động là lực lượng chủ yếu làm nên cuộc Cánh mạng tháng Tám và sau đó gánh cả cuộc kháng chiến trên đôi vai lực lưỡng của mình. Trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, văn sĩ Độ đã “ngã ngửa người ra” trước vai trò vĩ đại của người nông dân như thế, không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này đã được coi là bản tuyên ngôn nghệ thuật chung của cả một thế hệ nhà văn đi theo cách mạng và kháng chiến. Có thể nói, giác ngộ về vai trò vĩ đại của quần chúng nhân dân lao động, “qui phục” công nông một cách - hoàn toàn tự giác và đầy vui sướng là đặc điểm tâm lý chung của giới trí thức văn nghệ sĩ yêu nước sau Cách mạng tháng Tám và trong chiến tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là những năm tháng chống Pháp. Trước sự nghiệp to lớn của Cách mạng, trước vai trò vĩ đại của nhân dân lao động, họ cảm thấy chính trị, phục vụ công nông binh, dù chỉ làm “anh tuyên truyền nhãi nhép” (Nam Cao) nhưng có ích cho kháng chiến, đấy là niềm vinh dự lớn cho những Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nam Cao v.v… họ sẵn sàng từ bỏ nghiệp văn chương cũ như những “đứa con hoang”, thậm chí những “đứa con tội lỗi” để “lột xác” và làm lại cuộc đời nghệ thuật mới của mình vì kháng chiến, vì đại chúng công nông. Họ hăng hái đi tực tế sản xuất và chiến đấu sát cách với công nông binh để “Cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt”. Đến khi phong trào giảm tô và cải cách ruộng đất được phát động thì tinh thần hướng về công nông lại càng sôi nổi hơn nữa. Tình giai cấp giữa những người nghèo khổ là tình cảm đẹp nhất, cao cả nhất. Con người trong sạch nhất, đang tin cậy nhất và vì thế cũng đáng tự nào nhất là con người xuất thân từ bần cố nông và giai cấp vô sản.

          Tư tưởng nói trên, trong văn học, thường được phát biểu qua hai loại chủ đề với những dạng cấu tạo hình tượng phổ biến sau đây:

-         Phê phán cách nhìn có định kiến sai trái đối với quần chúng bằng cách, hoặc đối lập những nhân vật có quan điểm khác nhau và đề cao quan điểm đúng (Đôi mắt của Nam Cao), hoặc mô tả sự chuyển biến của một nhân vật nào đấy từ chỗ hiểu sai mà xem thường quần chúng, đến chỗ hiểu đúng và khâm phục (nhiều truyện ngắn của Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường, Hoa và thép của Bùi Hiển, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu v.v…)

-         Trực tiếp ca ngợi quần chúng, hoặc bằng cách xây dựng hình tượng đám đông sôi động của công nhân, nông dân, bộ đội, dân công… đầy khí thế và sức mạnh (Kí sự của Trần Đăng, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Đuốc dân công tiếp vận của Nguyễn Tuân, Xung kích, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Cửa biển của Nguyên Hồng, Bão biển của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đêm liên hoan của Hoàng Cầm, Ta đi tới, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, Đường ra mặt trận của Chính Hữu v.v…); hoặc xây dựng những nhân vật anh hùng kết tinh những phẩm chất cao đẹp của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc (Đất nước đứng lên, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Hòn đất của Anh Đức, Sống như Anh của Trần Đình Văn…, Hồ Chí Minh, Sáng tháng năm, Bác ơi!, Theo chân Bác, Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt v.v… của Tố Hữu v.v…).

     Viết về quần chúng không thể không gắn với công lao của Cách mạng. Một chủ đề phổ biến khác của văn học 1945-1975 là khẳng định sự đổi đời của nhân dân nhờ Cách mạng. Ấy là sự đổi đời từ thân phận nô lệ cực khổ trở thành người làm chủ, người tự do. Cũng là sự phục sinh về tinh thần, từ chỗ mê muội, thậm chí lạc đường (do xã hội cũ hoặc tác động của địch) đến chỗ được giải phóng về tư tưởng, được thanh thoát về tâm hồn (Làng, Vợ nhặt của Kim Lân, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Đứa con nuôi, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Xoè của Nguyễn Tuân, Anh Keng của Nguyễn Kiên, Bão biển của Chu Văn v.v…).

     Văn học chân chính không thể tạo ra được bằng sự áp đặt từ bên  ngoài của một đường lối văn nghệ nào, cũng không thể được tao ra bằng sự gắng sức của lý trí đơn thuần. Đó là vấn đề tình cảm, cảm xúc, vấn đề cảm hứng nghệ thuật. Đường lối văn nghệ phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu hướng về công nông binh, do phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử, phù hợp với bản chất yêu nước của văn nghệ sĩ, phù hợp với trình độ ý thức và tâm lý của họ trong hoàn cảnh đặc biệt của hai cuộc kháng chiến, nên đã tạo được nguồn cảm hứng nghệ thuật thực sự của những người cầm bút trong sáng tác.

     Đại chúng công nông binh, như đã nói không phải chỉ là đối tượng phản ánh, ngợi ca của văn học mà còn là nguồn cung cấp lực lượng sáng tác cho nó. Đảng rất chú ý phát động phong trào văn nghệ quần chúng để từ đấy phát hiện và bồi dưỡng những cây bút nổi lên từ các phong trào ấy, đặc biệt là trong quân đội.

Văn học viết cho đại chúng tất nhiên phải dễ hiểu và được quần chúng đông đảo ưa thích. Lối viết gọi là “biểu tượng hai mặt” có ẩn dấu nhiều nghĩa hoặc nghĩa không rõ ràng thường bị “uốn nắn”, thậm chí bị coi là thiếu tính Đảng (tác phẩm có tính Đảng chủ đề phải rõ ràng). Tiểu thuyết chỉ viết về hiện thực dưới hình thức của bản thân hiện thực. Truyện người thật việc thật chép theo lời tự thuật của các anh hùng chiến sĩ thi đua, có một thời rất được khuyến khích và đánh giá cao. Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bị phê phán. Lối văn Nguyễn Tuân bị coi là thiếu trong sáng. Hoài Thanh phê phán hàng loạt những thứ gọi là “rơi rớt tiểu tư sản” trong văn học kháng chiến: buồn rớt một rớt, ngắm rớt, nhắm rớt, “Yêng hùng” “rớt…”[2]. Nhiều nhà thơ tìm về kho tàng văn học dân gian. Lưu Trọng Lư, Trần Hữu Thung tìm đến thể hát dặm Nghệ Tĩnh, Thanh Tịnh soạn những bài độc tấu phát huy điệu nói lối vui nhộn của hề chèo. Tố Hữu chú ý phát huy các thể điệu dân ca và những thủ pháp nghệ thuật của ca dao truyền thống… Xuân Diệu ra sức học tập cao dao, dân ca, đề cao thơ của bần cố nông phát hiện trong cải cách ruộng đất, thơ “báng súng” của binh nhất, binh nhì… Ông viết: “Muốn làm được thơ khá, thiết tưởng nên bắt đầu làm được ca dao khá. Vì thơ của ta phải hay trên cơ sở quần chúng”. (Phê bình giới thiệu thơ v.v…).

3.     Một giai đoạn văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

     “Ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc hướng về lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, cả dân tộc chủ yếu sống với tâm lý lãng mạn – một chủ nghĩa lãng mạn thấm nhuần tinh thần chiến thắng và chủ nghĩa anh hùng. Không có lòng yêu nước thiết tha và lòng tin chắc chắn ở tương lai đầy ánh sáng của chiến thắng và cuộc sống ấm no hạnh phúc thì làm sao có đủ sức mạnh tinh thần vượt qua mọi thiếu thốn gian khổ, mọi thử thách nặng nền của chiến tranh:

                                  Củ khoai củ sắn thay cơm,

                        Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng

                                  Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát,

                        Trông trời cao mà mát tâm can…

                                                                        (Tố Hữu)

     Đấy là những năm tháng con người tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhưng tâm hồn chủ yếu sống với niềm tin vui ấm áp của tình đồng chí, của tình dân nghĩa Đảng và trong ánh sáng rực rỡ của lý tưởng, của tương lai.

     Chủ nghĩa lạc quan ấy không phải không có cơ sở thực tế. Bởi dân tộc ta vừa phải trải qua một quá khứ vô cùng khủng khiếp: chế độ thuộc địa Pháp và Phát xít Nhật hết sức tàn bạo đã dẫn tới nạn đói khủng khiếp giết chết hơn hai triệu người trong vài ba tháng. Cách mạng tháng Tám đã cứu dân tộc ta ra khỏi những ngày khủng khiếp đó mà nói như Nam Cao “có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình” (Đôi Mắt).

     Sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng, công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội bước đầu, nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, quả có làm cho đất nước thay da đổi thịt.

Ngày xưa nhà tranh vách đất là đặc trưng của làng quê ta:

Mái tranh ơi hỡi mái tranh

Trải bao mưa nắng mà thành quê hương.

                                                                        (Trần Đăng Khoa)

     Ngày nay khắp nơi mọc lên nhà gạch, mái ngói (gọi là phong trào “ngói hoá”) tạo nên tứ thơ đầy tinh thần lãng mạn của Xuân Diệu: bài Ngói mới. Còn Huy Cận, vốn xưa là một hồn thơ ảo não nhất trong phong trào Thơ mới, nay nhìn đâu cũng thấy Trời mỗi ngày lại sángĐất nở hoa. Ở Chế Lan Viên, Ánh sáng và phù sa là hình ảnh đất nước mà cũng là hình ảnh tâm hồn nhà thơ được hồi sinh và thanh xuân hoá.

     Nhìn sang các nước bạn thì Liên Xô, Trung Quốc v.v… là những thiên đường đối với một đất nước còn quá đỗi nghèo nàn và lạc hậu như nước ta. Đó là chủ nghĩa xã hội, tương lai chắc chắn sẽ thành hiện thực trên đất nước mình (Với Lênin, Đường sang nước bạn của Tố Hữu, Lại thấy thần tiên đất nở hoa của Huy Cận, Năm mơi năm Liên bang Xô Viết của Xuân Diệu v.v…)

     Nhìn thực tế dưới ánh sáng của một tương lai như thế, tự nhiên thấy thực tế đẹp hơn, sáng hơn gấp ngàn lần:

                                  Năm năm mới bấy nhiêu ngày

                        Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều…

                                  Dân có ruộng dập dìu hợp tác

                        Lúa mượt đồng ấp áp làng quê

                                  Chiêm mùa cờ đỏ ven đê

                        Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn

                                  Màu áo mới nâu non nắng chói

                        Mái trường tươi roi rói ngói son

                                  Đã nghe nước chay lên non

                        Đã nghe đất chuyển thành con sông dài

                                  Đã nghe gió ngày mai thổi lại

                        Đã nghe hồn thời đại bay cao

                                  Núi rừng có điện thay sao

                        Nông thôn có máy làm trâu cho người…

     Phải nói rằng, những điều Tố Hữu diễn tả đều là sự thật cả. Có điều sự thật ấy đã được nhân lên với kích thước cao rộng bát ngát của tương lai mà nhà thơ gọi là “gió ngày mai” và “hồn thời đại”. Và chủ nghĩa lạc quan cũng được nhân lên với kích thước ấy:

                                           Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm

                                           Mà cộc sống đã tưng bừng ngày hội

                                  (Tố Hữu)

                                           Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh

                                           Có lẽ lòng tôi cũng hoá thành

                                           Ngói mới

              (Xuân Diệu)

     Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi. Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút ký, tuỳ bút (và cả kịch bản sân khấu) đều rất giàu chất thơ. Và hướng vận động của cốt truyên, của số phận nhân vật, của dòng cảm nghĩ của tác giả hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện đại tới tương lai đầy hứa hẹn.

Niềm tin ở tương lai là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn khiến dân tộc ta có thể vượt lên trên mọi thử thách, tạo nên những chiến công phi thường:

                                  Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

                                  Mà lòng phơi phới dậy tương lai!

              (Tố Hữu)

Tin chắc ở tương lai và sống với tương lai, con người đã đi vào chiến trường, đi vào bom đạn vui như trẩy hội:

Những buổi vui sao cả nước lên đường

Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục

-- Sung sướng bao nhiêu, tôi là đồng đội

Của những người đi, vô tận, hôm nay

(Chính Hữu)

Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây

(Phạm Tiến Duật)

Ta qua sông qua suối

Ta qua núi qua đèo

Lòng ta vui như hội

Như cờ bay gió reo

(Tố Hữu)

Tóm lại, cảm hứng lãng mạn là đặc trưng mỹ học của giai đoạn văn học 1945 – 1975 xét trên nét chủ đạo của nó.

Trong giai đoạn văn học này, cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi, tạo nên một chủ nghĩa lãng mạn anh hung

Cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt đã đặt mỗi người Việt Nam bình thường ở vào tình huống không thể không trở thành anh hùng. Đồng thời, mỗi con người, một cách tự nhiên đều cảm thấy hết sức gắn bó với cộng đồng và có ý thức nhân danh cộng đồng mà suy nghĩ và hành động. Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ, ngục tù? Câu hỏi ấy khiến mỗi người Việt Nam chân chính tự nguyện dẹp đi tất cả mọi lợi ích cá nhân, cá thể, hy sinh tất cả, kể cả tính mệnh của mình:

Ôi tổ quốc, ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ như chồng

Ôi tổ quốc, nếu cần, ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…

(Chế Lan Viên)

Ra đời và phát triển trong không khí lịch sử đó, văn học giai đoạn 1945 – 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng. Nhân vật trung tâm của nó là những con người đại diện cho giai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cai quý của cộng đồng.

Tố Hữu nhìn chị Trần Thị Lý không phải là một cá nhân mà là một con người của dân tộc và nhân loại, với “trái tím vĩ đại không phải “đập cho em” mà cho “lẽ phải trên đời, cho quê hương em, cho Tổ quốc, loài người”. Nhà thơ không gọi nhân vật của mình là Trần Thị Lý mà là “Người con gái Việt Nam”. Ấy là cái thời mà cái cá nhân, cái riêng tư cơ hồ mất vị trí trong cảm quan thẩm mỹ - cái thời mà Chế Lan Viên gọi là “Những năm toàn đất nước có một tâm hồn, có chung khuôn mặt”, nhà thờ cũng nhìn Tổ quốc mình không phải bằng con mắt cá nhân mà bằng con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa”, nghĩa là con mắt của lịch sử dân tộc.

Những anh Núp của Nguyên Ngọc, chị Út của Nguyễn Thi, ông Tám Xẻo Đước của Anh Đức, bà mẹ đào hầm của Dương Hương Ly… đâu phải chỉ là những cá nhân. Đó là Đất nước đứng lên, là những Người mẹ cầm súng, là sự vùng dậy của Đất, là sức mạnh vô tận của Đất quê ta mênh mông… Còn Lê Anh Xuân thì hình dung anh giải phóng quân hy sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất như một tượng đài hùng vĩ hiện lên trên cái nền bát ngát của không gian Tổ quốc và thời gian những thế kỷ. Người chiến sĩ ấy là ai? Không cần biết. Anh không để lại tên tuổi địa chỉ gì hết. Vì anh là biểu tượng của giải phóng quân, hơn nữa là “Dáng đứng Việt Nam” “tạc vào thế kỷ”.

Các nhà lý luận thường nói đến khoảng cách sử thi giữa nhà văn và nhân vật anh hùng. Do khoảng cách ấy, giọng văn sử thi thường trang nghiêm và thiên về ngợi ca với thái độ chiêm ngưỡng đầy cảm phục và hình ảnh sử thi thì thiên về vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng.

Nói như thế không có nghĩa là văn học giai đoạn 1945 – 1975 hoàn toàn không có giọng văn nào khác. Đôi lúc cũng thấy có xen vào một vài giọng điệu khác như giọng đùa cợt, suồng sã hay châm biếm mỉa mai… Nhưng những giọng điệu ấy nếu không ném vào những nhân vật phản diện thì không bao giờ chiếm ưu thế và bị phê bình uốn nắn…

Trong giai đoạn văn học này, khuynh hướng sử thi không chỉ thể hiện ở những thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, truyện ký hay những bản trường ca. Nó chi phối đến cả những bài thơ trữ tình ngắn, thậm chí nhiều bài thơ tứ tuyệt:

Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

(Hồ Chí Minh)

O du kích nhỏ giương cao súng

Thắng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế! To gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu.

(Tố Hữu)

Ba đặc điểm trên đây của văn học giai đoạn 1945 – 1975 có quan hệ mật thiết với nhau, là ba phương diện không tách rời được của giai đoạn văn học này.

Quan hệ giữa ba đặc điểm có tính tất yếu, tính quy luật. Văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, tất nhiên trước hết phải nhằm tác động vào đại chúng công nông binh. Và để phản ánh và ngợi ca cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của cộng đồng dân tộc thì một cách tự nhiên phải tìm đến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Đặc điểm thứ ba thể hiện rõ diện mạo của giai đoạn văn học. Nhưng nó không tách rời hai đặc điểm trên mà như hệ quả của hai đặc điểm ấy. Vả lại, ngay các đặc điểm một và hai đã bao hàm trong bản thân chúng không phải chỉ có khuynh hướng tư tưởng mà còn cả khuynh hướng thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật nữa.

Và cả ba đặc điểm, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ đường lối văn nghệ của Đảng trong hoàn cảnh đặc biệt của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc.

Ba đặc điểm nói trên đã giúp phân biệt giai đoạn văn học 1945 – 1975 với các giai đoạn trước và sau nó.



[1]
Văn Hồ Chủ Tịch – NXB Giáo dục, 1971, trang 240.

[2] Xem Nói chuyện thơ kháng chiến, 1950.

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
phan huong dan hay
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này