“Vạn Hạnh thông ba cõi
Thật hợp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ Pháp
Chống gậy trấn kinh vua”.
Thiền sư Vạn Hạnh, người đã cùng Lý Thái Tổ khai sáng kinh đô Thăng Long, suốt đời tận tụy với sự nghiệp “Hộ quốc an dân”, và từng được xưng tán là “Chống gậy thiền trấn giữ kinh vua” một thời...![3] Ngài có công lớn, là đạo diễn xây dựng nên vương triều nhà Lý, là tiền đề cho các triều đại sau, phát triển rực rỡ, nhất là triều đại nhà Trần.
Thiền Sư Vạn Hạnh là một tu sĩ, nên sự nghiệp của ngài là “Trí Tuệ”, cái dụng của trí tuệ đó đã tác động vào cuộc đời tạo nên sự nghiệp lớn lao là thành lập củng cố và phát triển một vương triều vàng son của đất nước ta thời phong kiến.
2- Sơ Lược sự hình thành Triều Lý cùng Thiền Sư Vạn Hạnh
2.1- Bối cảnh đất nước đại Việt trước triều Lý
Sau khi phá quân Nam Hán trên sông Bạch đằng huyền thoại (năm 939), Ngô Quyền xưng vương, lập nên triều đại nhà Ngô (939-965)[4]. Đất nước ta đã bước qua một trang sử mới hào hùng, oanh liệt, khẳng định nền độc lập tự chủ. Nhưng nhà Ngô tồn tại không bao lâu, các sứ quân đứng lên nỗi dậy tranh giành quyền cai quản lãnh thổ, tạo nên cuộc loạn 12 sứ quân. Trước tình hình đó, Đinh Bộ Lĩnh đứng ra dẹp loạn 12 sứ quân, thành lập nên vương triều nhà Đinh (968 – 980)[5]. Không bao lâu Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) mất, con thì còn nhỏ, quyền nhiếp chính lúc này là Thái Hậu Vương Vân Nga. Giặc phương Bắc lâm le xâm lấn, bên trong nước nhiều âm mưu nỗi loạn, nên thái hậu Vương Vân Nga mạnh dạng nhường ngôi lại cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành), lập nên triều tiền Lê (980 – 1009)[6]. Triều đại nhà Lê truyền được sáu đời vua, đời vua cuối cùng là Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều), ăn chơi trác táng, bỏ bê triều chính, triều đình trở nên rối ren. Trước tình hình hủ bại của vua quan nhà Lê, làm cho dân chúng lầm than. Thiền sư Vạn Hạnh một lần nữa nhúng tay vào chính sự. Thiền sư đứng sau hậu đài đạo diễn một vỡ tuồng chuyển trao quyền lực. Thiền sư là nhân vật chính trong sự chính biến này. Thiền sư đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, thành lập nên vương triều nhà Lý (1010 – 1225). Việc chuyển giao quyền lực từ nhà Lê sang nhà Lý diễn ra không tốn một giọt máu, đây quả là sự hy hữu trong lịch sử giữa hai triều đại.
2.2- Sơ lược tiểu sử thiền sư Vạn Hạnh
Thiền sư Vạn Hạnh người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (nay là làng Đại đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh)[7], họ Nguyễn, không rõ tên tục là gì. Ngài sinh vào khoảng năm 932[8]. Gia đình Ngài có truyền thống thờ Phật. Từ thuở nhỏ ngài đã rất thông minh, học khắp tam giáo và khảo cứu nhiều kinh luận nhà Phật. Năm 21 tuổi, ngài xuất gia cùng với Định Huệ Thiền sư, theo học với ngài Thiền ông, tức là đời pháp thứ bảy của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau Thiền ông tịch rồi, ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì Tam-ma-địa”, mỗi khi nói câu gì cũng lạ thường, người đời đều cho ông nói là những câu sấm. Thời vua Lê Đại Hành còn tại thế, hoàng đế hết lòng tôn kính, thường mời ngài đến hỏi về việc quân.
Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), nước Trung Hoa sai Hậu Nhân Bửu đem quân qua đánh nước ta, khi giặc đóng quân ở núi Cương Giáp Lãng, vua Đại Hành mời Thiền sư đến hỏi: “Quân ta thắng bại thế nào?” Ngài tâu: “Chỉ trong bảy ngày thì giặc tất lui”. Sau quả nhiên y như lời ngài đã nói, ngoài ra ngài còn rất giỏi về sấm ngữ và độn số, vua Lê Đại Hành và quần thần rất tôn kính, thán phục.
Năm Thuận Thiên thứ 9 (l018), vào ngày rằm tháng 5 năm Mậu ngọ (30-06-1018), ngài không đau ốm gì mà tịch, thọ 80 tuổi. Vua Lý Thái Tổ và các đệ tử rước ngài lên đài hỏa táng rồi thâu hài cốt xây tháp để thờ.
Trước khi tịch ngài để lại bài kệ rằng :
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,
Nhậm vận thạnh suy vô bố úy,
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch :
Thân như bóng chớp chiều tà,
Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.
Sá chi suy thạnh việc đời,
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
Về sau vua Lý Nhân Tôn (l072 - 1 127) cũng có bài truy tán ngài rằng:
Vạn Hạnh dung tam tế,
Nhơn phù cổ sấm cơ (ky).
Hương quan danh Cổ Pháp
Trụ tích trấn vương kỳ .
Dịch :
Thiền sư học rộng bao la,
Giữ mình hợp phép sấm ra ngoài lời.
Quê hương Cổ Pháp danh ngời,
Tháp bia đứng vững muôn đời Đế Đô.
Vị vua thứ 4 này đã phong ngài là: “Chống gậy giữ kinh đô”.
Thiền Sư được Lý Thái Tổ phong làm Quốc sư, nhưng vẫn ở tại Chùa.[9] Khi quốc gia hữu sự mới vào triều giúp ý kiến cho vua rồi trở về Chùa.
2.3- Sư lược cuộc đời Lý Thái Tổ (1010 – 1028).[10]
Lý Công Uẩn là người Châu Cổ Pháp, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền ông không có cha, mẹ họ Phạm, tên Thị, đi chơi chùa Tiêu Sơn, nằm mộng thấy đi lại với thần nhân rồi có thai sinh ra ông. Khi 3 tuổi mẹ đem ông cho sư ở chùa Cổ Tháp tên là Lý Khánh Vân làm con nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn. Lớn lên ông chuyển qua nghề võ, sau giữ chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, chỉ huy cấm quân ở Kinh đô Hoa lư, có uy tính trong triều Tiền Lê. Khi triều Tiền Lê suy yếu, vua cuối cùng triều Lê là Lê Long Đĩnh bỏ bê triều chính. Sư Vạn Hạnh hợp tác với Đào Cam Mộc lật đổ vua Lê Ngọa Triều, đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, lúc ấy ông ngoài 35 tuổi.[11]
Vừa lên ngôi Lý Công Uẩn đã lập tức ban hành một loạt các biện pháp cấp bách nhằm cứu vãn tình hình kinh tế, chính trị và xã hội vốn đã bị tàn phá nghiêm trọng dưới thời Lê Long Đĩnh. Công việc đầu tiên là xóa nợ thuế cho những người nghèo khổ trong cả nước. Sau lễ đăng quan còn ban bố lệnh bãi bỏ một số qui định không phù hợp và cho phép nhân dân cả nước ai có điều gì oan ức thì bẩm báo, hoàng đế đích thân xét xử. Đầu năm 1011, Lý Công Uẩn lại ban đặc xá cho những người bị Lê Ngọa Triều bắt, cho gạo cơm tiền bạc thuốc men đưa họ về quê cũ.
Về những biện pháp cấp bách này, các sử thần thời Lê viết: “ Hoàng Đế ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan từ và nhân từ tinh tế và hòa nhã, tất có lượng của bậc đế vương”[12]
Giá trị của một con người không chỉ ảnh hưởng đến bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến rất nhiều người khác. Cũng vậy, thiền sư Vạn Hạnh là người có công khai sáng triều đại nhà Lý, thì Lý Công Uẩn là người đầu tiên thực thi tư tưởng Vạn Hạnh bằng tinh thần dân tộc.
3- Vai Trò Của Thiền Sư Vạn Hạnh Trong Sự Nghiệp Cứu Quốc
3.1- Tư tưởng của thiền sư Vạn Hạnh là chiến lược, thao lược trong việc kiến lập triều đại nhà Lý.
3.1.1- Tư tưởng tu tập của thiền sư Vạn Hạnh
Thiền sư Vạn Hạnh thông cả ba luồng tư tưởng: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Ngài là một học giả của Nho và Đạo giáo, là hành giả của Phật giáo.
Tư tưởng chính của thiền sư là tu theo pháp “Tổng trì tam muội”[13]. Ngài chuyên nghiên cứu sâu về tư tưởng bồ tát Long Thọ với tinh thần của “Trung Luận”. Thiền sư Vạn Hạnh tư duy và luôn đặt ra các mối hoài nghi các vấn đề, rồi tư duy tìm cách khả thi nhất để giải quyết vấn đề đó. Pháp môn “Tổng trì tam ma địa” đỉnh cao là đạt đến Tam muội (Chánh định), đí đến đắc đạo.
Thiền sư Vạn Hạnh thừa kế dòng thiền Tỳ Ni đa Lưu Chi, dòng thiền này chủ yếu lấy tinh thần kinh “Tượng đầu tăng xá “ làm yếu chỉ nghiên cứu và tu tập. Tinh thần trụ nới vô trụ. Tư tưởng này giống như tinh thần của Lục tổ Huệ Năng trong kinh “Pháp Bảo Đàn”, với tinh thần “Vô niệm làm tâm, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc”.
Từ tinh thần trụ nới vô trụ đó nên sau khi đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, ngài đã bỏ tất cả về ở ẩn tu hành, không tham gia chính trị, tuy tinh thần yêu nước vẫn không phai nhạt. Đây cũng là hành động của những bật kỳ tài trong thiên hạ như: Quí Liêu giúp Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, Trương Lương giúp Lưu Bang đánh thắng Hạng Võ lập nên Hán triều, Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi thắng quân Minh, các ngài đều từ bỏ công danh trở về qui ẩn.
3.1.2- Chuẩn bị nhân tài cho một triều đại mới
Triều đại nhà Lê suy vong, thiền sư là người suy tư nhất, bởi vì ngài cũng ủng hộ nhà Lê. Thiền sư là người cầm cán giật dây cho cuộc cách mạng thay ngôi đổi chủ. Bất cứ cuộc cách mạng nào cũng phải chuẩn bị nhân tài, ngài đã chọn Lý Công Uẩn bởi vì ý thức hệ của nước ta là Phật giáo, nên không thể chọn thành phần khác. Tinh thần này đã có từ khi nhà Lê nắm chính quyền. Lý Công Uẩn cũng là người do thiền sư nuôi và đào tạo. Lý Công Uẩn là người hoàn toàn thỏa mãn hai yêu cầu trên, là người có thể giúp dân thoát khỏi đau khổ dưới triều nhà lê. Nguyện vọng nhân dân và giới Phật giáo cần có một vị vua mới, đem chánh pháp vào đời và giúp dân chúng thoát khỏi khổ đau. Việt Nam sử ký toàn thư đã nói Lý Công Uẩn là người khác thường.
3.2- Cuộc vận động quần chúng để làm cuộc cách mạng phế nhà Lê lập nhà Lý
3.2.1- Dùng sấm ngữ truyền khẩu tuyên truyền
Thấy vua Lê Ngọa Triều tha hóa, nhân dân oán ghét, thiền sư Vạn Hạnh tung sấm ngôn trong dân chúng. Để nhân dân biết rõ tình hình của triều đình và giới thiệu chho mọi người biết đến Lý Công Uẩn, vị vua kế nhiệm sau cuộc cách mạng thành công. Báo trước cho dân chúng nhà Lý lên ngôi thay nhà Lê. Có bài sấm như thế này:
“Gốc cây thăm thẳm
Bẹ lá xanh xanh
Hoa đào mộc rụng
Thập bát tự thành
Cung trấn trời hiện…”[14]
Ngài báo động rằng tương lai nhà Lý sẽ lên nắm chính quyền.
3.2.2- Phân tích một số bài sấm
Bài sấm ngài ra báo hiệu triều Lê sắp diệt vong
“Gốc cây thăm thẳm
Bẹ lá xanh xanh
Hoa đào mộc rụng
Thập bát tự thành
Cung trấn trời hiện…”
Chữ Hán: chữ thập ghép với chữ bát thành chữ Lý (李), ý nói họ Lý sẽ lên thay họ Lê.
Hay bài sấm kệ, khi Đỗ Ngân muốn ám hại thiền sư, ngài bảo người mang đến cho tên này bài sấm kệ như sau:
“Thổ, Mộc tương sinh Kim với Cấn
Cớ sao mưu hại giấu trong thân
Lúc này ta buồn bã vô cùng
Nhưng ngày sau ta chẳng giận ngầm”
Ngài dùng tên ngũ hành: Thổ, Mộc, Kim, Cấn. Nếu chiếc tự hai chữ thổ (土) và mộc (木) lại hiệp thành chữ Đỗ (杜), hai chữ Cấn (艮) và Kim (金)hợp lại thành chữ Ngân(銀). Câu sấm trên ám chỉ tên Đô Ngân mưu hại sư, tên ấy hiểu ý sợ quá liền bỏ ý định.
4- Diễn tiến của cuộc cách mạng thay đổi triều đại
4.1- Diễn tiến cách mạng
Bên ngoài vận động quần chúng bằng sấm ngữ, bên trong bắt tay với một số đại thần lớn. Thiền sư Vạn Hạnh đã vạch ra kế hoạch cụ thể với Đào Cam Mộc làm người ủng hộ thực thi kich bản này.
Đại thần Đào Cam Mộc đến gặp Lý Công Uẩn. Ông nói: Vua trước sống sa đọa, cần phải thay đổi triều đại, mọi người muốn xưng tôn ngài lên làm vua.
Lý Công Uẩn nói: “Sao tôi làm thế đươc. Ông có muốn tôi bắt ông lên quan không”. Đào Cam Mộc nói: “Người trong nước ai cũng nói họ Lý lên ngôi, sấm cũng đã nói rồi”. Lý Công Uẩn nói: “Tôi đã rõ ý ông, không khác gì ý của thiền sư Vạn Hạnh”.[15]
Đào Cam Mộc nói đại ý ông cứ lên làm vua như nước đỗ về chỗ trủng, ai cũng theo.
4.2- Vai trò lãnh đạo cá nhân thiền sư Vạn hạnh
-Thiền sư Vạn Hạnh có trí tuệ thúc đẩy cách mạng nhanh, hiệu quả cao, nắm được tâm tư nguyện vọng của quần chúng
-Xứng đáng là lãnh tụ thời đại, hoàn thành nhiệm vụ, vượt qua lễ giáo thời đại.
- Lãnh tụ là người sáng lập ra các tổ chức cách mạng, là linh hồn của cuộc cách mạng.
Tất cả ba yếu tố trên, thiền sư Vạn Hạnh đã thỏa mãn.
5- Sự dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và xây dựng đất nước
5.1- Lý do dời đô
Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, việc đầu tiên thiền sư Vạn Hạnh tham mưu cho nhà vua, cần phải dời đô về Thăng Long, vì vị trí này mới xứng đáng tầm cỡ của một quốc gia. Mục đích triều Lý dời đô về Thăng Long là tính kế sách lâu dài
Trước đây khi đập tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã chọn Hoa Lư làm kinh đô. Đó là một sự lựa chọn rất tự nhiên, bởi lẽ Hoa Lư là quê hương ( bên ngoại ) cũng là đất dấy nghiệp của họ Đinh. Sang thời tiền Lê, Hoa Lư vẫn tiếp tục được chọn làm đất đóng đô. Xét về địa thế, Hoa Lư quả là mộ vị trí hiểm trở, rất thích hợp với việc xây dựng một hệ thống phòng ngự lợi hại. Nhưng một vị trí chỉ thuận lợi về mặt phòng ngự như thế, không thể thích hợp với việc kiến thiết kinh đô của một quốc gia đang phát triển trên tất cả mọi phương diện. Bước vào giai đoạn cường thịnh của nhà nước độc lập, kinh đô phải là một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Vị trí hội đủ những điều kiện quan trọng này chính là Đại La hay La Thành (tức Hà Nội ngày nay). Lý Công Uẩn khẳng định: “ Vùng này đất đai rộng rãi và bằng phẳng, vị thế cao ráo mà sáng sủa, dân cư không phải khổ về nỗi thấp trũng tối tăm, muôn vật thật tốt tươi phồn thịnh. Xem khắp nước việt ta thì đây chính là nơi thắng địa, đúng là chốn tụ họp quan trọng nhất của bốn phương, xứng đáng làm kinh đô của muôn đời.”
Lý Công Uẩn chẳng những đã sớm phát hiện ra chỗ ưu việt của Đại La mà còn nhanh chóng thực hiện dời đô. Tháng 7 năm 1010, việc dời đô được thực hiện.
5.2- Nội dung chiếu dời đô
Trước khi dời đô về Thanh Long tức Đại La, Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh tham mưu viết chiếu dời đô. Nội dung nói rõ nguyên nhân của việc dời đô từ Hoa Lư đến đại La là hợp với phong thuỷ, hợp “Ý trời”, là nơi dựng nghiệp đế dài lâu.
Nội dung chiếu như sau:
“Ngày xưa nhà Thương đến Bàn Canh là năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương là ba lần dời đô há phải là các vua đời tam đại ấy theo ý riêng mà tự dời đô bậy đâu, là vì mưu chọn chổ ở chính giữa làm kế cho con cháu ức muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trơi, không noi theo việc cũ nhà Thương, nhà Chu, yên ở nơi quê quán, đến nổi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên. Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác. Huống chi, đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hô ngồi, ở giũa Nam-bắc- đông-tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chổ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chổ ấy là nơi hơn cả. Thực là chổ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà đóng đô các khanh nghĩ thế nào?. Bầy tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân đựoc giàu của, nhiều người, việc lợi như thế ai dám không theo”.[16] Vua nghe quần thần nói thế rất mừng rỡ, trên dưới vua tôi đòng lòng vui vẻ dời đô.
Khi dời đô ra Đại La, lấy cơ nhà vua nằm mộng thấy rồng bay lên, nên khẳng định đây là Long mạch, và đổi tên thành Đại La là Thăng Long (Rồng bay lên).[17]
6- Cố vấn triều đình nhà Lý dùng chánh pháp cai trị
6.1- Cô vấn nhà Lý ổn định lòng dân
Thiền sư Vạn Hạnh được phong làm quốc sư. Ngài đã cố vấn nhà vua dùng chính sách an dân, thúc đẩy lao động sản xuất, an ninh lương thực.
“Công việc đầu tiên của Lý Công Uẩn là xóa hết nợ thuế cũ cho những người mồ côi, góa bụa, già yếu hoặc tàn tật. Đồng thời miễn thuế cho nhân dân cả nước trong ba năm liền. Đây là việc làm nhân đạo và táo bạo, thể hiện niềm tin mãnh liệt của vị vua đầu triều Lý”.[18] Những chính sách đầy đạo đức này mang đậm nét Phật giáo mà giai trò then chốt là thiền sư Vạn Hạnh.
6.2- Những chính sách đậm nét phật giáo
- Việc đầu tiên Lý Công Uẩn cho xây dựng chùa chiền khắp nơi, tạo điều kiện cho tăng ni tu học, dĩ nhiên cũng gặp không ít trở ngại vì đất nước còn gặp nhiều khó khăn.
- Tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) vua sai quan là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc sang Tàu lấy kinh Tam tạng mang về để vào kho Đại Hưng.[19]
6.3 -Tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền vốn đã có từ trước, đến đây được hoàn chỉnh thêm một bước. Đứng đầu nhà nước là hoàng đế nhà Lý với một phạm vi quyền hạn ngày càng mở rộng. Sau hoàng đế là triều đình được xây dựng và hoạt động một cách chính quy. Những người trong thân tộc và những người có công tập hợp nhau lại thành tầng lớp thống trị mới, chiếm giữ hầu hết các vị trí then chốt trong triều Lý, đây là loại hình nhà nước của quý tộc – loại hình nhà nước mà ở đấy, quý tộc họ Lý có vai trò chi phối. Họ làm việc dưới quyền điều khiển của hoàng đế và tất cả được chia thành chín phẩm cao thấp khác nhau. Đứng sau các đại thần là đội ngũ quan lại gồm hai ban văn và võ. Văn thì có thượng thư, tả hữu Tham tri, tả hữu Gián nghị đại phu, Trung thư thị lang, Viên ngoại lang, Phủ sĩ sư, Học sĩ … võ thì có Đô thống, Nguyên soái, Tổng quản, Tả hữu kim ngô, Thượng tướng, Đại tướng, Vệ tướng, Chỉ huy sứ … ngoài ra, nhà Lý còn có một số quan chức chuyên trông coi việc xét xử án kiện và ngục tụng nữa. Quan lại ở các địa phương cũng gồm đủ cả văn lẫn võ. Đó là đội ngũ các tri phủ, tri châu và các quan binh, trấn thủ. Hệ thống quan chức có phần chịu ảnh hưởng của hệ thống quan chức nhà Tống, song đã được giản lược bớt. Thực ra, ảnh hưởng này đã từ thời tiền Lê, nhưng lúc đó mức độ còn rất thấp.
Xây dựng củng cố lực lượng vũ trang.
Ngay khi vừa lên ngôi, lý công uẩn đã rất chăm lo đến việc xây dựng lực lượng quân sự, có bốn bộ phận sau đây:
Thiên tử quân: là quân chủ lực của triều đình, làm nhiệm vụ bảo vệ kinh đô, bảo vệ triều đình và đóng giữ tại những vị trí chiến lược của quốc gia. Đây cũng là lực lượng nồng cốt trong sự nghiệp giữ nước.
Quân các lộ: là lực lượng quân sự của các lộ, làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, đồng thời, chốt giữ tại những vị trí trọng yếu của địa phương. Bộ phận này không đồng đều, nhiều ít tùy thuộc vào cương giới, dân số và tầm quan trọng của các lộ.
Quân vương hầu: là quân đội tư nhân của các bậc vương tuớc và hầu tước. Loại hình quân đội tư nhân này tồn tại mãi cho đến khi nhà Hậu Lê được dựng lên mới bị xóa bỏ hoàn toàn.
Dân binh: là lực lượng bán vũ trang do nhân dân các làng xã tổ chức và quản lý. Nhiệm vụ chủ yếu của dân binh là bảo vệ an ninh trật tự trong làng xã của mình.
Khi cần, nhà nước có thể huy động cả bốn loại lực lượng vũ trang nói trên. Để xây dựng quân đội, nhà Lý đã thực hiện chế độ quản lý nhân binh trong khắp cả nước. Nhân binh từ 18 tuổi trở lên gọi là hoàng nam và từ 20 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam, đều dược ghi tên vào sổ sách và có nghĩa vụ sẵn sàng đi lính, trái lịnh hoặc đào ngũ sẽ bị trị tội.
6.4-Biên Soạn Bộ Luật Thành Văn Đầu Tiên
Hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, luật pháp thi hành ở nước ta là luật ngoại bang. Từ thế kỷ thứ X trở đi, nền độc lập và tự chủ đã được thiết lập. Nhưng chỉ hơn một thế kỷ mà đã có đến năm dòng họ nối nhau cai trị, những người cầm quyền chưa đủ thời gian, càng chưa có đủ kinh nghiệm để xây dựng luật pháp. Đến giữa thế kỷ thứ XI, xuất phát từ nhu cầu khách quan và ngày càng cấp bách của nước nhà, nhà lý đã cho biên soạn bộ luật thành văn đầu tiên của triều đại mình, cũng là bộ luật thành văn của lịch sử nước ta, đó là bộ hình thư . đây là một sự kiện vô cùng quan trọng của lịch sử pháp quyền nước ta. Từ đây, lối cai trị theo kinh nghiệm và tập tục, lối xét xử tùy tiện …bị đẩy lùi.
7- Những thành tựu triều Lý đạt được
7.1- Về kinh tế:
Triều đại nhà Lý rất chú trọng về phát triển kinh tế, đặc thù là nông thương nghiệp và các ngành nghề thủ công.
-Nông nghiệp: Trọng nông và Dĩ nông vi bản. Chính sách bắt nguồn từ quyền lợi giai cấp, nhưng đã đóng góp rất lớn vào việc phát triển nông nghiệp, mở rộng đất đai, khai hoang, đào kinh thuỷ lợi…
-Thủ công nghiệp: Chia ra hai hình thái rõ ràng: Thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp dân gian cùng song song tồn tại.[20]
7.2- Văn hoá giáo dục:
Tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) vua sai quan là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc sang Tàu lấy kinh Tam tạng mang về để vào kho Đại Hưng.
Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu và Quốc Tử Giám ngay giữa kinh thành Thăng Long.
Năm 1075 tổ chức thi khoa cử đầu tiên để chọn hiền tài phục vụ nước nhà.
Đời vua Lý Thánh Tông (1045-1072), một phái thiền tông mới được lập ra là phái Thảo Đường.
7.3- Thành tựu về kiến trúc
Nhà Lý đã cho xây dựng khá nhiều công trình kiến trúc đặc sắc:
- Kinh thành Thăng Long, gồm hai vòng thành có chu vi khoảng 25 km2. Trong hoàng thành đã có các cung điện cao đến 4 tầng.
- Chùa Giạm (Quế Võ-Hà Bắc), dài hơn 120 m và rộng hơn 70 m.
- Tháp báo thiên (Hà Nội) cao trên 60m, gồm 12 tầng. Tháp Sùng Thiện Diên Linh (Hà Nam Ninh) cao 13 tần. Tháp Chương Sơn (Ý yên – Hà Nam Ninh) vuông mỗi cạnh gần 20m.
- Về tượng đặc biệt nhất là tượng Di Lặc ở chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) cao 20m.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình điêu khắc…
8-Kết luận
Thiền sư Vạn Hạnh là một nhân vật vô cùng quan trọng trong việc kiến lập và xây dựng vương triều nhà Lý, có thể nói Ngài là linh hồn của thời đại. Có thể tóm tắt trong những nội dung sau
a- Thiền sư Vạn Hạnh là bậc chân tu, giác ngộ.
Thiền sư Vạn Hạnh đã thành tựu trong pháp môn tư duy tu tập Tam ma địa, và ngài đã đắc đạo trong pháp môn chánh định này. Bằng chứng là ngài có thể hiểu biết được quá khứ vị lại, đã ra sấm ngữ báo trước những điều sắp xảy ra. Đặc biệt ngài là vị sư am tường Phật giáo, lãnh hội được lời Phật dạy, xem phú quí công danh như bèo mây. Thể hiện trong tinh thần bài kệ trước khi ngài thị tịch:
“Thân như điển ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc Xuân vinh Thu hựu khô
Nhâm vận thịnh suy vô bế uý
Thịnh suy như lệ thảo đầu phô”.
b- Thiền sư Vạn Hạnh là người khai sáng triều đại nhà Lý.
Một đời tu thân, đắc đạo, Thiền sư Vạn Hạnh thực sự là “kiến trúc sư” cho Lý Công Uẩn trong cả cuộc sống và sự nghiệp vinh quang. Khi Lý Công Uẩn đã lên ngôi vua, nhà sư vẫn khuyên răn với lời lẽ thật cảm động: “Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là sự may mắn muôn năm mới gặp một lần”.
c- Thiền sư triển khai tinh thần mang đạo vào đời.
Tuy thiền sư là người tu hành nhưng vẫn giúp nhà vua tư vấn chính sự, nhưng không màng công danh, không hưởng bất cứ quyền lợi nào, đây là tinh thần mang đạo vào đời nhưng không bị đời làm ô nhiễm.
d- Tư tưởng thền sư Vạn Hạnh là tư tưởng đặc thù của Việt Nam trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Vị vua thứ ba triều lý đã tặng cho thiền sư danh hiệu “Chống gậy thiền trấn giữ kinh đô” đã nói rõ điều này.
Ghi tạc công đức của sư tổ Vạn Hạnh, nhân dân Bắc Ninh và các tín đồ phật tử đã tạc tượng nhà sư bằng đá, đặt trên đỉnh núi cao. Vầng trán cao, sống mũi thẳng, nét môi kiên nghị, cả khối tượng Thiền sư Vạn Hạnh toát lên vẻ khoan hòa mà vẫn uy nghi, thông thái.
Trong những tháng năm biến loạn đầu thế kỷ X, Thiền sư Vạn Hạnh ngồi một mình bên dòng Tiêu Tương, đã kiên tâm gác nỗi đau riêng để lo nỗi đau chung, cho muôn dân được bình yên, no ấm theo đúng giáo lý của đạo Phật - “Phật tại Tâm”. Ông mất mà lòng vẫn chưa nguôi luôn canh cánh việc dân việc nước. Trong nhà Tổ còn lưu giữ được bức tượng cao 50cm, tạc ông trong tư thế tay để trên đầu hổ và để trong khán thờ. Công đức của ông được hậu thế muôn đời ghi nhớ, danh thơm muôn thuở.
Thích Trí Huệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1-Hoàng Thiệu Khang, Tuổi trẻ thẩm mĩ, nxb trẻ, 1987.
2- Hoàng Văn Lâu dịch, Đại Việt sử kí toàn thư, tập I, nxb VHTT, 2003.
3- L Mạnh Thát, Nghin Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, nxb TP.HCM.
4- Đại Nam thiền uyển đăng lục.
5-Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, nxb TPHCM, 2005.
6- Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử trung đại Việt Nam, tủ sách đại học tổng hợp.
7- Hòa Thượng Thanh Từ, Thiền Sư Việt nam, nxb Tôn giáo.
8- Thích Mãn Giác, Vạn Hạnh kẻ đi qua cầu lịch sử, nxb Tổng hợp TPHCM, , 2003.
9- Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Thiền Uyển Tập Anh, nxnTổng hợp.
10- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Thành hội Phật giáo TP. HCM ấn hành, 1992.
11- Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Ủy Ban KHXHVN Viện Triết Học, NXB Khoa Học Xã Hội.
12- Nguyễn Công Lý, Văn học Phật giáo thời Lý – Trần Diện mạo và Đặc điểm, NXB Đại Học Quốc Gia – TP. HCM.
13- Nguyễn Công Lý, Bản sắc dân tộc trong Văn Học Thiền Tông thời Lý – Trần, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1997.
[1] Hoàng Thiệu Khang, Tuổi trẻ thẩm mĩ, nxb trẻ, 1987.
[2] Hoàng Văn Lâu dịch, Đại Việt sử kí toàn thư, tập I, nxb VHTT, 2003.
[3] L Mạnh Thát, Nghin Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, nxb TP.HCM.
[4] Trần Trọng Kim, Việt Nam lược sử, nxb Tổng hợp Tp.HCM, tr. 77.
[7] L Mạnh Thát, Nghin Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, nxb TP.HCM.
[8] Lê Mạnh Thát, Lịch sử phật giáo Việt Nam, tập II, nxb Tổng hợp TP.HCM, tr. 545.
[9] Đại Nam thiền uyển đăng lục.
[10] Hoàng Văn Lâu dịch, Đại Việt sử kí toàn thư, tập I, nxb VHTT, 2003.
[11] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, nxb TPHCM, 2005, tr. 88.
[13] Thích Mãn Giác, Vạn Hạnh kẻ đi qua cầu lịch sử, nxb Tổng hợp TPHCM, , 2003, tr.15.
[14] Hòa Thượng Thanh Từ, Thiền Sư Việt nam, nxb Tôn giáo.
[15] Hoàng Văn Lâu, đại Việt sử ký toàn thư, nxb VHTT, 2003.
[16] . Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Cao Huy Giu (dịch giả), nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2006, tr. 240,241.
[17] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, nxb Tổng Hợp tpHCM, 2005, tr.88.
[18] Nguyễn Khắc Thuần, đại cương lịch sử trung đại Việt Nam, tủ sách đại học tổng hợp, tr.101.
[19] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, nxb Tổng Hợp tpHCM, 2005, tr.88.
[20] Hoàng Văn Lâu, Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, nxb VHTT, 2003, tr. 101.