Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
00:06, Tuesday.April 07 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
Đề tham khảo môn lí luận văn học
Cập nhật : 24/06/2012 - Đã xem : 27,169 lần

LÝ LUẬN  VĂN HỌC

1.     Đặc trưng của văn nghệ thể hiện ở đối tượng, nội dung và phương thức tồn tại như thế nào?

·        Đặc trưng  của văn nghệ thể hiện ở đối tượng:

Đối tượng là cái hướng tới chiếm lĩnh nhận thức để chuyển thành nội dung.

Văn học hướng tới chiếm lĩnh nhận thức toàn bộ hiện thực khách quan và đời sống xã hội. Song đối tượng chủ yếu của văn học là con người. Văn học phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội, văn học không miêu tả thế giới như những khách thể tự nó mà lại tái hiện chúng trong tương quan tình cảm con người. Khái niệm trong đối tượng văn học là tính cách của con người. Những người sống suy nghĩ cảm xúc hành động mang bản chất xã hội, lịch sử.

Ví dụ:  Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

            Heo hút cồn mây súng ngửi trời

                                                ( Quang Dũng, Tây Tiến)

Khách thể ở đây là một khung cảnh hiểm trở của núi rừng “khúc khuỷu”, “heo hút” nói lên khung cảnh hiểm trở của núi rừng và ta liên tưởng đến sự vất vả và gian lao của cuộc hành quân. Như vậy khách thể không thể vẽ hết những  tâm tình người chiến sĩ mà phải có tâm hồn của con người mới diễn đạt những suy nghĩ và cảm xúc của con người.

·        Đặc trưng của văn nghệ thể hiện ở nội dung:

Đặc điểm nội dung văn học là khát vọng thiết tha muốn thể hiện một quang niệm về chân lý đời sống. Một chân lý về cái đẹp, cái tốt, cái thật thể hiện trong các hiện tượng, thiên nhiên và xã hội trong các quan hệ giữa người với người. Gắn liền với chân lý là một cảm hứng mãnh liệt muốn khẳng định điều này, phủ dịnh điều kia. Muốn nhìn thấy lẻ phải được thực hiện. nó gắn liền với cảm xúc mạnh mẽ của con người, với sự rung động của con tim. Đó là những cảm xúc nghệ thuật là một trạng thái đặc biệt của tâm hồn. Đó có thể là niềm vui, nỗi buồn, yêu thương hay căm giận nhưng dứt khoát không phải là cái nhìn bình lặng, phẳng phiu mà nó là tâm tình, tình cảm sâu xa, máu thịt bằng tất cả sự từng trải, sự nung nấu và rung động của con tim và khối óc làm rung động lòng người.

Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

           Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

 Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

 Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

                   (Cảnh khuya, Hồ Chí Minh.)

    Đặc điểm nội dung văn học trong bài thơ này là ta liên tưởng đến tâm sự của Bác qua hình tượng  ‘trăng, hoa, cổ thụ, tiếng suối…” Vẻ đẹp núi rừng, yên tĩnh, nên thơ. Một cảnh tượng yên lắng như thế mà sao Bác không ngủ được? Không ngủ vì nhớ gia đình, hay người yêu? Sự hài hòa giữa tâm hồn nghệ sĩ và chiến sĩ là nỗi “lo nước nhà”. Lo và mong đất nước được độc lập “sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

·        Đặc trưng của văn  nghệ được thể hiện qua phương thức tồn tại

(hình tượng nghệ thuật):

             Hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh thần mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi nào làm sống lại khách thể đó và người đọc tác phẩm chỉ có khi nào xâm nhập tác giả tinh thần đó mới có thể nảy sinh sự thưởng thức đồng cảm.

               Khi nói đến hình tượng ta thường chú ý hai đặc điểm:

1.     Hình tượng nghệ thuật  như một khách thể tinh thần đặc thù.

        Gọi là “khách thể” bởi vì đó là thế giới tinh thần đã được khách thể hóa thành một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sáng tạo hay người thưởng thức nữa, cũng không gắn liền với quá trình tâm lý, thần kinh của tác giả như trong quá trình sáng tạo.”

        Gọi là “tinh thần” bởi vì tinh thần là một cấp phản ứng đặc biệt của ý thức con người. Nếu cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán là những hình thức tâm lý nhận thức, phản ánh tường mặt của khách thể, thì cái tinh thần là một “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” kiểu khác, trong đó, cái được phản ánh xuất hiện trong ý thức con người như một tồn tại khác của nó.

2.     Tính tạo hình và biểu tượng của hình tượng.

        Tạo hình là một việc làm cho khách thể có được một tồn tại cụ thể cảm tính bên ngoài qua chất liệu, là phú cho thế giới những hình tượng khái quát một thể xác, hình hài. Nó bao gồm việc tạo cho hình tượng một không gian, thời gian, những sự kiện và những quan hệ, và rất quan trọng là tạo dựng những con người có nội tâm, ngoại hình, hành động, ngôn ngữ.

        Biểu hiện là phẩm chất tất yếu của tạo hình. Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn. Biểu hiện gợi lên sự trọn vẹn, đầy đặn của hình tượng, và nhất là thể hiện khuynh hướng tư tưởng tình cảm của con người, của tác giả trước Các hiện tượng đời sống.

Ví dụ:           Rượu ngon không có bạn hiền

           Không mua không phải không tiền không mua.

                                           (Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến.)

        Ta thấy năm tiếng “Không” nhắc liên tục trong 14 tiếng, thể hiện một sự trống vắng vô cùng to lớn trong lòng nhà thơ, cuộc sống không còn chút gì niềm vui, khi mất đi người bạn tri kỉ.

2.     Mối quan hệ hữu cơ giữa đối tượng, nội dung và phương thức tồn tại của văn nghệ

     Như chúng ta biết đối tượng là cái chiếm lĩnh nhận thức để chuyển thành nội dung nên chúng có quan hệ với nhau. Đối tượng là cái nhìn khách quan trong cuộc sống, mà muốn hiểu cuộc sống thì chúng ta nhận thức con người qua những tính cách.  Đó là những con người sống cá thể, cảm tính, nhưng lại thể hiện rõ nét những phẩm chất có ý nghĩa xã hội những “kiểu quan hệ xã hội”. Văn học khám phá ý nghĩa đạo đức của các tính cách trong các tình huống éo le, phức tạp nhất, trong những trường hợp không thể nhìn thấy một cách đơn giản bề ngoài. Do lẽ ấy mà đời sống con người được văn học chuyển thành nội dung thiết thực trong cuộc sống nó là trung tâm kết tinh những quan hệ.

     Tóm lại, văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội. văn nghệ không miêu tả thế giới như những khách thể tự nó, mà tái hiện chúng trong tương quan với lý tưởng, khát vọng tình cảm của con người. Văn nghệ không phản ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng, mà là tái hiện nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của đối tượng của văn nghệ là tính cách của con người, những con người sống suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử.

     Như thế, đối tượng đặc trưng nói trên sẽ khéo theo nội dung đặc trưng là tình cảm xã hội thẩm mỹ, và phương thức phản ánh bằng những hình tượng nghệ thuật. Qua những hình tượng nghệ thuật, ta có thể thưởng thức được nghệ thuật, tâm hồn vốn là, hoặc phải là trong sáng vô ngần, hư tâm và thành tâm vui sướng hoặc đau khổ trước số phận con người, vận mệnh của đất nước, hướng đi của lịch sử, vốn là những vấn đề xã hội lớn lao, liên quan đến mọi người, không phải chỉ cho một người. Nhưng cũng chính vì tâm hồn vô tư trong sáng như vậy, con người dễ vươn lên cái hoàn thiện và cao đẹp. Tình cảm trong nghệ thuật, Do đó không phải chỉ là tình cảm xã hội, mà là tình cảm xã hội thẩm mỹ.

    Ví dụ:  Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

               Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

               Sóng biếc theo làng hơi gợn tí,

               Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

              Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt,

              Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

                                      (Thu Điếu, Nguyễn Khuyến)

          Bài thơ trên cho ta thấy, một loạt hình tượng của mùa thu Việt Nam, “lẽo” và “veo”  là những từ gợi hình ảnh một mùa thu yên tĩnh, gợi một nỗi buồn mam mác, vắng vẻ người qua lại. “Lá vàng trước gió”  ta thấy Nguyễn Khuyến quan sát kỹ lá bay trong rất nhẹ, chiếc lá thon thon hình con thuyền, chao đảo trong không gian, rơi xuống hồ yên tĩnh. Quả là một hình tượng  đặc sắc và tinh tế. Bầu trời xanh “lơ lửng” cho ta thấy đối tượng hình ảnh là một vùng quê Việt Nam vào mùa thu, cái lạnh của đất trời, đường làng vắng vẻ “khách vắng teo”. Nhưng hai câu cuối, “buông” cho ta thấy nội dung bài thơ là tác giả từ quan về ở ẩn, mùa thu câu cá là thú vui tiêu giao, hòa mình vào thiên nhiên, quên những bận lòng non nước.

3.Vì sao nói tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật

          Để chiếm lĩnh đối tượng  của mình, trong lãnh vực văn nghệ hình thành một kiểu tư duy đặc biệt gọi là tư duy nghệ thuật. Có thể tư duy chia làm ba bình diện khác nhau: tư duy hành động – trực quan, tư duy hình tượng – cảm tính và tư duy khái niệm – lôgíc.

Tư duy hình tượng cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng.

Ví dụ: Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,

Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

          Nhìn đặc tính của con chuồn chuồn thì ta đã biết những hiện tượng như:
“thấp thì mưa”, “cao thì nắng”.

          Tư duy hành động trực quan không cần tái hiện lại khách thể.

          Ví dụ: Quê hương tôi đất mặn đồng chua,

                     Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.  

          Khi  trực nhận “đất mặn”, “đồng chua”, “cày lên sỏi đá” là ta thấy vùng quê nghèo khổ.

          Tư duy khái niệm – lôgíc tuy cũng là phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng   nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng.

          Ví dụ: Mẹ tôi tay bí tay bầu

          “”Tay bí”, “tay bầu” nói rõ sự bận rộn của người Mẹ.

          Nói tư duy duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật là nói đến ba loại tư duy hành động – trực quan, hình tượng – cảm tính và khái niệm – lôgíc  xuyên thấm vào nhau. Vai trò chủ đạo của tư duy hình tượng trong tư duy nghệ thuật, cho nên khi thu nạp những yếu tố của các loại tư duy khác, đều phỉa qua sự sàng lọc, cải tiến, bổ sung, liên kết, tọa cho được một loại tư duy mang tính chỉnh thể, mở ra những khả năng tối đa cho việc xây dựng những hình tượng sinh động và sâu sắc về cuộc đời muôn mặt. Ở đây những kinh nghiệm do phương thúc phản xạ trong tư duy hành động – trực quan đưa lại, phải biến thành những thể nghiệm thấm thía và sống động, và những khái niệm lôgíc không bài xích mà có thể kết hợp với những lôgíc đa trị mơ hồ trực giác phi lý tính, thậm chí còn dung nạp cả những dạng thái tiền tư duy, tiềm thức, vô thức v.v…

4.     Thể nghiệm và lô gíc đa trị mơ hồ trong tư duy nghệ thuật là gì?

+ Thể nghiệm là cảm nhận được sự sống. nó không tách rời với kinhnghiệm, nhưng có những điểm khác. Trước hết người ta có thể trải nghiệm qua kinh nghiệm với những hiện tượng khách quan, nhưng chỉ thể nghiệm những gì liên quan trực tiếp đến sinh mệnh. Kinh nghiệm có thể hình thành trong thế bị động theo phương thức “kich thích – phản xạ”, nhưng thể nghiệm là trong thế chủ động của sự lãnh hội suy ngẫm. Thể nghiệm do đó, có chứa chang tình cảm, có khi mãnh liệt, trong lúc kinh nghiệm có thể trung tính khách quan. Tóm lại, thể nghiệm là một dạng “tái kinh nghiệm”, tự mình phải sống lại bằng tình cảm và tưởng tượng những kinh nghiệm đã trãi qua.

Ví dụ: Cái rét đầu mùa anh cách xa em

 Bên dài lạnh, chăn chia làm hai nữa

Nửa đắp cho em, ở vùng sóng bể.

Nữa đắp cho mình, ở phía không em.

                                      ( Chế Lan Viên)

Hai người đang ở xa nhau nhưng nhớ lại những kỉ niệm khi bên nhau “cùng chung một chiếc chăn” hạnh phúc, tác giả bằng tình cảm, tưởng tượng lại những giây phút êm đềm hạnh phúc đã qua.

+ Lôgíc đa trị mơ hồ: Đa trị là nhiều, mơ hồ là không xác định. Cho nên     lôgíc da trị mơ hồ có nghĩa là lôgíc có nhiều nghĩa mơ hồ.

Trước hết ta hiểu thế nào là “lôgíc cổ điển”? là lôgíc có tính xác định và dần dần nó tỏ ra không đủ dùng với những sự vật và hiện tượng trong trạng thái không ổn định, mà trạng thái này là rất phổ biến, bởi vì sự vật luôn luôn tương tác và biến chuyển, ổn định chỉ là tạm thời và tương đối. Còn lôgíc mơ hồ dùng để phán đoán những cái mơ hồ không xác định, nhan nhản trong cuộc sống, phản ánh ngay trong lời nói thường ngày như: “thôn A gần thôn B”; “Anh A có dáng người cao”; “Đoạn đường đó trơn lắm” v.v…; Gần, nhưng có kề không? Cao một mét bao nhiêu? Trơn như thế nào?,v.v…, tất cả ở trạng thái chưa xác định.

Nghệ sĩ, trong đó có văn thi sĩ, cũng khái quát cuộc sống, nhưng không bằng những công thức, khái niệm, cũng không phải bằng những hình tượng minh họa đơn giản, mà là những hỉnh tượng sống động hữu cơ với tư cách là bức tranh thu gọn của chính cuộc sống toàn diện và sống động hơn. Văn học cũng vậy, chủ thể sáng tạo của nó cũng phải nghiền ngẫm, thể nghiệm nhiều lắm mới đưa ra một bức tranh vẽ bằng lời sống động và phức tạp, điển hình cho một trạng huống nhân sinh, chứ kho6ngt phải là một mớ hỗn độn, tạp nham. Có thể hiểu không giải thích được là vì tắc tỵ, bí hiểm, còn giải thích được rõ ràng vì ý tỷ nghèo nàn, đơn giản. Mơ hồ không phải  vô nghĩa mà là đa nghĩa.

Nhưng điều quan trọng hơn “văn học là nhân học” cho nên tính chất phức tạp, mơ hồ không xác định, đa nghĩa cũng tồn tại trong tư duy nghệ thuật của nhả văn về con người.

Ví dụ: Kiều càng sắc sảo mặn mà

          So bề tài sắc lại là phần hơn

          Làn thu thủy, nét xuân sơn

          Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

          Một hai nghiên nước nghiên thành,

          Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Thông minh vốn sẵn tính trời

          Pha nghề hội họa đủ mùi ca ngâm

                             (Truyện Kiều, Nguyễn du)

          Sự đa dạng nhiều tính cách như nàng Kiều, tỷ chừng không có con người

Trọng, nhưng phỉa phụ bảc chàng. Kiều quyết liệt, cầu khẩn trước Tú Bà, Nhẫn nhục trước Hoạn Thư v.v…Tất cả đều Lôgíc, nhưng không phải là lôgíc một chiều, mà lôgíc đa trị nhiều chiều.

5.     Vai trò của trực giác và vô thức trong tư duy nghệ thuật diễn ra như thế nào?

+ Trực quan là cái biểu hiện qua trực giác. Trực giác là thấy được, nhận biết được một cách trực tiếp thông qua phân tích chứng minh của lý trí. Trực giác nghệ thuật là góp phần xây dựng lên những hình ảnh khái quát được bản chất hoặc một vài phương diện bản chất của đời sống.

Ví dụ: Ngư ông tam xướng yên hồ khoát

          Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao.

                             (Chu trung ngũ hành, Nguyễn Trãi)

          (Ngư ông hát lên ba lần thì mặt hồ phủ khói như rộng ra thêm. Mũc đồng thổi lên một tiếng sáo, thì vầng trăng vươn lên trên trời cao).

Làm gì có chuyện mặt hồ rộng ra, vầng trăng vươn lên, nghe rất phi lý về mặt thật cảnh thuần túy, nhưng lại rất đúng với cảm xúc của con người khi nghe tiếng hát, tiếng sáo giữa hồ vắng dưới trăng khuya. Kết quả kỳ diệu như vậy, nhưng tất cả vấn đề còn ở chỗ tại sao trực giác xuất hiện rất nhanh như một khả thị đột nhiên.

Nói chung những cái hay trong nghệ thuật, ý tưởng hay, câu chuyện và nhân vật hư cấu hay, rồi thần chú, nhãn tự, v.v… tất nhiên có khi phải suy tư nhiều, “thôi xao” sửa chữa nhiều, nhưng cũng lắm khi còn do chúng tự vụt hiện đến, mà chính tác giả cũng chưa kịp ý thức đầy đủ. Nhưng xét cho cùng cũng là do nghiệm sinh phong phú, mang một tiềm năng liên kết tự động giữa các chất liệu muôn màu, muôn vẻ với nhau và sẽ vụt hiện, khi cần thiết. Trực giác kỳ diệu, nhưng không huyền bí là như vậy.

          + Vô thức trong tư duy nghệ thuật là thiên về những động cơ tiềm ẩn, mà chính nhà văn có khi cũng không hay biết gì, hoặc thường ngộ nhận thành một động cơ ý thức khác. Dù sao vô thức cũng tồn tại trong sáng tạo nghệ thuật    , trong tư duy nghệ thuật nhà văn có thể có nhân tố vô thức, nhưng chỉ bắt nguồn từ bản năng sinh tồn và sinh trưởng nữa:

1.     Vô thức từ bản năng sinh thực

Bản năng sinh thực của con người, thật ra còn có những khao khát truyền thống nối dõi, hoặc mặc cảm tuyệt nòi, v.v… nhưng đúng là nổi lên chuyện tính dục. Như Bích Khuê ở Việt Nam vốn là một thi sĩ tài hoa và biết tự  trọng, hiển nhiên được nhiều thiếu nữ mến mộ, nhưng bệnh lao hồi ấy chẳng khác nào một án tử hình. Lòng khao khát cuộc sống, nhất là đời sống lứa đôi của một chàng trai trẻ, càng mãnh liệt, nhưng càng mãnh liệt càng vô vọng, chỉ còn biết dồn nén thành những xung đột mơ hồ trong vô thức.

2.     Vô thức từ bản năng sinh tồn

Cậu bé E.Pô mồ côi cha từ lúc chào đời, lên ba lại mồ côi, mẹ vốn là một thiếu phụ  trẻ đẹp, nhưng xanh xao vàng vọt, sau khi bà đã chết đi sống lại hàng bốn tháng trời trong một căn phòng vắng lạnh. Đứa bé thơ dại quanh quẩn bên gường mẹ, thỉnh thoảng cậu leo lên gường ấp iu, âu yếm nhìn mẹ, hấm buồn với vẻ dại khờ, làm sao hiểu được cái khốn cảnh của mình.Nhưng chình ấn tượng lờ mờ đó đã đọng lại dai dẳng trong vô thức, hình thành nên cái ý tưởng rằng vẻ đẹp gắn liền với cái chết. Chính sự ám ảnh của “bản năng muốn chết” như nhà phê bình M.Bônapáctơ dã nói có thể giải thích được tính khí cũng như văn chương của E.Pô.

3.     Vô thức từ bản năng sinh trưởng

Sinh tồn trong quần thể người dĩ nhiên  phải dựa vào sự hợp tác, hợp lực làũng không tránh khỏi yếu tố cạnh tranh Nhất là trong phát triển, tức là dọn đường cho sự sinh tồn của tương lai, tức là sự sinh trưởng, ý hướng cạnh tranh chuyển hóa thành cảm xúc ưu việt tức là cái ý hướng muốn hơn người cũng không tránh khỏi nảy nở trong tâm thức của từng cá thể người.

6.Vì sao nói  văn học là một hình thức ý thức xã hội đa chức năng?  Nhận thức giáo dục thẩm mỹ trong văn học.

+ Văn học là một hình thức ý thức xã hội đa chức năng vì chức năng của văn nghệ trong nghĩa rộng, boa gồm cả vấn đề giá trị xã hội của tác phẩm lẫn ý nghĩa của hành động sáng tạo nghệ thuật đối với chủ thể sáng tác. Có thể nói chức năng bộc lộ, giải bày, giao tiếp, xuất phát từ chỗ xem sáng tác như một hành động gửi gấm, ký thác      trao đổi, thông điệp tình cảm tư tưởng.Nếu hiểu chức năng là ý nghĩa xã hội của văn nghệ thì tình hình cũng như vậy. Xã hội là khái niệm rất rộng Ý nghĩa xã hội có thể hiểu ở nhiều góc độ triết học, chính trị, đạo đức hoặc như một giá trị nhân sinh,nhân loại: có xem việc rèn luyện, phát triển những năng lực tình cảm của con người như một ý nghĩa xã hội quan trọng của văn nghệ. Có thể coi tác dụng tuyên truyền chính trị, giáo dục đạo đức là một ý nghĩa cơ bản của nó. Cũng có thể hiểu nghệ thuật như một hình thức của lý tưởng có chức năng làm cân bằng đời sống tinh thần của con người, đền bù cho nhân loại những gì chưa có, chưa đến, những gì đang ao ước, mong mỏi, hi vọng, v.v…

          Điều đó chứng tỏ rằng, chứ năng là một khái niệm nhiều mặt, có nội dung phong phú. Muốn hiểu đầy đủ chức năng của nghệ thuật chúng ta có cái nhìn tổng hợp, đứng từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau để xem xét. Đây chính là cơ sở của quan niệm về tính chất nhiều chức năng của vă học nghệ thuật trong mỹ học và lý luận nghệ thuật hiện nay.

 + Nhận thức giáo dục thẩm mỹ trong văn học

1.Chức năng nhận thức:

Nhận thức đầu tiên  có nghĩa là biết; ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật lả ở chỗ nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm được những tri thức gì. Sự khám phá về những vấn đề xã hội và con người trong một thời đại. Nghệ thuật không chỉ hướng ra thế giới mà còn hướng vào con người. Một đặc điểm hết sức đáng chú ý của nhận thức nghệ thuật lả ở đây dường như “biết” không cơ bản mà hiểu mới là cái chính . Nghê thuật là sự ngạc nhiên: ngạc nhiên vì khám phá ra điều mới mẻ trong cái quen thuộc hằng ngày, nhận ra cái chí lý sâu xa trong những gì bình thường, đơn giản. Nghệ thuật khác khoa học ở chỗ nó không phát minh mà chủ yếu là lý giải, nghiền ngẫm, cả về những điều muôn thuở. Ở đây quá trình nhận thức đồng nghĩa với sự giác ngộ, tự hiểu ra, sáng ra.

2.Chức năng giáo dục:

 Nghệ thuật trở thành một phương tiện tác động quan trọng và có hiệu quả chính là nhờ vào những đặc điểm vốn có của nó. Bản chất nghệ thuật là tình cảm. Đánh vào tình cảm vào tác động vào khâu then chốt để lay chuyển con người. Thông thường và với số đông thì tình yêu, lỏng tin, sự say mê bao giờ cũng đi trước sự giác ngộ. Nghệ thuật cho dù là cao siêu và sâu sắc đến đâu trước hết cũng đòi hỏi xúc động. Bị xúc động, bị lôi cuốn, say mê bởi những điều viết ra trong tác phẩm, người đọc, người xem sẽ khó nhận ra những điều lầm lạc hoặc dễ dàng làm theo tiếng gọi của những cái mà mãi về sau mới nhận thức được cụ thể. Nghệ thuật giáo dục, cỉa tạo con người bằng tình cảm, thông qua con đường tình cảm.

Nghệ thuật dễ tác động, biến cải được con người vì nó hấp dẫn, vui tươi. Ở đây dường như giáo dục, giải trí, vui chơi là một. Thậm chí, chính trong những tác phẩm có vẻ thiếu “nghiêm chỉnh” nhất (như các thể loại hài hước, châm biếm) thì việc giáo dục, trước hết là giáo dục đạo đức lại được đặt ra hết sức nghiêm chỉnh. Đây cũng là một điểm độc đáo của sự tác động nghệ thuật.

Khả năng tác động của nghệ thuật rất to lớn, nhưng ảnh hưởng của nó đới với con người diễn ra không phải một lúc mà thường là thấm vào dần dần, mỗi ngày một ít. Không nên hình dung trằng đọc xong một cuốn sách, xem xong một vở kịch, người ta có thể biến đỗi ngay, lập tức tốt hay xấu đi. Cũng không nên nghĩ rằng chỉ những ai tiếp nhận nghệ thuật mới chịu tác động giáo dục của nó. Nghệ thuật ảnh hưởng đến con ngưởi lâu dài, dần dần và tác động theo kiểu lây lan.

3.Chức năng thẩm mĩ:

Nghệ thuật thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách. Trước hết nó thõa mãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc, người xem bằng việc phản ánh cái đẹp vốn có trong thiên nhiên, trong đời sống. Việc truyền đạt này không mang tính chất tự nhiên chủ nghĩa mà thường gắn với quá trình điển hình hóa, chọn lọc, khái quát kỹ lưỡng. Vì vậy, cái đẹp trong hiện thực đi vào nghệ thuật thường được nhân lên rất nhiều. Nhờ có nghệ thuật mà một phong cảnh, một sự vật, một con người trở thành đẹp hai lần: một lần trong đời sồng và một lần trong tác phẩm.

4.Chức năng giao tiếp: Đặc điểm của chức năng giao tiếp trong nghệ thuật còn được thể hiện ở nội dung và hình thức giao tiếp, tức là chính tác phẩm. Giao tiếp không phải chỉ có ở nghệ thuật. Nghệ thuật chỉ là một trong những hình thức giao tiếp của con người. Song nghệ thuật được thực hiện nhiệm vụ giao tiếp theo một kiểu riêng chứ không lập lại các chức năng như ở lĩnh vực khác. Tính chất  không lập lại đó trước tiên trong nội dung giao tiếp.

7. Trình bày các giá trị của văn học.

1. Phẩm chất dân tộc

          Thật ra từ bao đời nay khi thực thể dân tộc được hình thành không một nhà văn lớn nào không không gắn bó với dân tộc và đất nước khai sinh ra mình. Người ta gắn bó với thăng trầm lịch sử , với thiên nhiên đất nước, với tiếng nói của cha ông mình truyền từ đời này sang đời khác.

          Đọc Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoi, ai không cảm thấy xúc động trước những trang miêu tả vẻ đẹp thuần khiết của tâm hồn Natasha.

          Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Trãi rất dân tộc trong áng văn đại cáo bình ngô và Quân trung từ mệnh tập đầy dũng khí, mà cũng rất dân tộc trong những bài thơ ngợi ca phong cảnh thiên nhiên đất nước.

2.     Tính nhân văn

Những tác phẩm chứa đựng giá trị nhân văn, tức giá trị  toàn nhân loại, xem con

người là mục đích cao nhất. Quan niệm lấy con người làm gốc, xem con người không phải là con vật nhưng cũng không phải là thần thánh, từ đó mà thái độ khoan dung, cảm thông và thể tức đối với con người.

          Giá trị nhân văn trong văn học Việt Nam đạt đến đỉnh cao với trào lưu  nhân văn chủ nghĩa nữa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ  XIX, có thể nhìn thấy hình ảnh con người cá thể, cô đơn ý thức về con người mình, nỗi khát khao tự do yêu đương và tình yêu nhục thể, đối nghịch với không khí ngột ngạc và suy đồi về phong hóa dưới xã hội đương thời. Ví dụ: Cung  oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Thơ của Hồ Xuân Hương. 

3.       Sự sáng tạo độc đáo

Trong văn học phẩm chất văn học và tinh thần trở thành giá trị khi nó thống nhất với phẩm chất thẩm mỹ, chất lượng nghệ thuật, sự độc đáo trong sáng tạo.Mà muốn như vậy nhà văn phải là người tài năng, có tính sáng tạo, có phong cách riêng, nghĩa là có khả năng tạo ra cái mới về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

Trong văn học Việt Nam, thơ Hồ Xuân Hương là một giá trị độc đáo, tâm hồn nổi loạn, ngôn ngữ đặc biệt trong không gian.

8. Những đặc điểm của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác

Văn học, thật ra cũng là một loại nghệ thuật, nhưng chính vì thế lâu nay, người ta dễ dàng bằng lòng đối  sánh nó với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, triết học, đạo đức, v.v…Song thật ra đây là những đặc trưng chung của nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tuy rất cần, nhưng chưa đủ để hiểu đặc trưng riêng của văn học. Văn học không phải là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một loại nghệ thuật. Do đó, phải tiến lên khám phá đặc trưng của văn học trong sự đối sánh với các với các loại hình nghệ thuật khác,  Đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật, xét đến cùng là bắt nguồn từ chất liệu của nó. Chất liệu của hội họa là màu sắc đường nét, của âm thanh là âm thanh và tiết tấu, của vũ đạo là hình thể và động tác v.v..đều là vật chất với những trạng thái của nó. Trái lại, chất liệu của văn học là ngôn ngữ hay nói cách sát đúng hơn là ngôn từ, đều không phải là bản thân vật chất , mà chỉ là ký hiệu của nó mà thôi. Ở đây không dùng ngôn ngữ đã chuyển nghĩa, không những bao hàm chất liệu, mà còn có cả phương thức và quy tắc của một ngành nghệ thuật nhất định như “Ngôn ngữ Palê”, “Ngôn ngữ điện ảnh”,…, mà nói ngôn ngữ theo nghĩa gốc, chỉ có một hệ thống tiếng nói của một cộng đồng nhất định, phân biệt với các cộng đồng khác, và có thể khái quát lại trong từ điển và sách ngữ pháp.

Nhưng trong khi đối sánh các nghệ thuật khác, rút ra đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ, cần được giới thiệu rõ ràng thêm. Nói đặc trưng ở đây chỉ là sự khác nhau giữa các văn học với tất cả các loại hình nghệ thuật còn lại, chứ không phải đề cập tỉ mỉ đến chỗ khác nhau giữa văn học với bất cứ loại nghệ thuật cụ thể nào. Mặt khác, nói đặc trưng đặc điểm, chỗ mạnh, chỗ yếu của hình thái, loại hình, và cả loại thể nữa là nói trên thể khả năng, còn có biến thành hiện thực trong sản phẩm cụ thể hay không, thì lại phụ thuộc vào vai trò chủ thể, một điều quá rõ trong bất cứ lĩnh vục hoạt động nào của con người.

Cuối cùng nói đối sánh để tìm ra sự khác biệt, nói lên đặc trưng riêng là chủ yếu, nhưng không thể bỏ qua sự tương đồng. Quả vậy trong gia đình nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thẫm mĩ, văn học và nghệ thuật ắt có những chỗ liên đới giao thoa và chuyển hóa lẫn nhau, đó cũng là điểm cần làm sáng tỏ ở đây. Nhưng trước hết, có thể thấy, xuất phát từ chất liệu, trong sự đối sánh với tất cả các loại hình nghệ thuật khác, văn học với tư cách là nghệ thuật của ngôn từ, sẽ mang những đặc điểm sau:

1.     Tính hình tượng gián tiếp

Tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai, những  ngôn từ kia sẽ có tác động vào vỏ đại não, cho nên cuối cùng vẫn nghe thấy được một cách gián tiếp qua óc tưởng tượng của chúng ta. Gọi văn học mang tính hình tượng gián tiếp là vì thế. Ví dụ như hình dáng của Ngu Cơ và điệu tỳ bà thì tịnh không nghe thấy gì cả nhưng ta vẫn nghe được tiếng tỳ bà cùa ca nữ bên bến Tầm Dương, được Bạch Cư Dị mô tả như sau:

“Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước

Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao

Cung đàn chọn khúc thanh tao

Tiếng buông xé lụa tựa vào bốn dây.”

(Tỳ bà hành)

2.     Tính tư duy trực tiếp

Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác), là kí hiệu của tư duy cho nên những suy nghĩ, cảm xúc hoặc bất cứ trạng thái tư tưởng tình cảm nào của con người, cho dù không nói ra cũng phải thông qua ngôn ngữ. Lấy ngôn ngữ làm chất liệu, văn học có thể bộc lộ trực tiếp tư tưởng của nhà văn hoặc của nhân vật. Một nhà thơ có thể bộc lộ rõ tâm trạng của mình:

“Anh chờ em, ôi chân dài viễn phố

Vạn trần gian thương sáng khôn nguôi

Anh chờ em, chim bay qua núi đỏ

Non hao gầy qua hồi nước xanh xao.”

3.     Tính vô cực hai chiều về không thời gian

Các loại hình nghệ thuật khác đều mang tính hữu hạng trong việc biểu hiện nhân tâm và thế sự, mặc dù ở những mức độ và hình thức khác nhau. Mặc khác, với tư cách là vật thể, những chất liệu ấy cho dù có thứ nhẹ như lông hồng thì tác phẩm làm từ những chất liệu ấy cũng “cồng kênh” ở mức độ khác nhau.

Trái lại, với tư cách là những kí hiệu phi vật thể, ngôn ngữ hay ngôn từ có thể cô kết lại trong văn bản cực kì gọn nhẹ. Và đúng như một câu đố Nga “Không phải là mật nhưng lại dính với tất cả”, ngôn ngữ hay ngôn từ lại có thể hình dung bất kì sự vật nào trong thế giới vĩ mô, cũng như vi mô, hữu hình cũng như vô hình, từ trạng huống triền miên đến chớp nhoáng…lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học mang tính cực đại và cực tiểu về không gian, cực lâu và cực nhanh về thời gian là vì vậy.

4.     Tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận

 Ngôn ngữ còn đặc điểm tuyệt diệu là vốn sở hữu chung của mọi người, nhưng đồng thời cũng là sở hữu riêng chọn vẹn không cần phải chia cho từng người, do đó là một phương tiện vừa để tự biểu hiện lại vừa để tự giao tiếp với người khác.

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này