Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
02:33, Sunday.May 24 2026
Tài Liệu Học Tập [Trở về]
TÀI LIỆU THAM KHẢO MÔN MÔI TRƯỜNG
Cập nhật : 09/12/2012 - Đã xem : 4,012 lần

 MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

TỔ 3 SOẠN

(Vì khả năng còn hạn chế nên trong lúc soạn bài không sao tránh khỏi sai sót, chúng con chỉ gởi đến quý Thầy, Cô tham khảo để chuẩn bị bài thi).

 

1.      Môi trường là gì? / Định nghĩa

 Môi trường là tất cả những yếu tố bao xung quanh một hoặc một nhóm sinh vật và có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển của sinh vật đó. Ví dụ: Các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học,..,

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).

2.      Khái niệm về môi trường:

- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật.

- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.

Có hai loại môi trường:Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chúng ta chỉ nghiên cứu môi trường tự nhiên, vì môi trường tự nhiên nghiên cứu toàn bộ xã hội, ảnh hưởng lớn đến xã hội.

Có nhiều tài liệu người ta gọi môi trường là hoàn cảnh

a. Nước --> Thủy

b. Lửa --> hỏa

c. Cây   --> mộc

d. Kim loại  --> kim

e. Đất   --> thổ

- Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,… mà ở đó cá thể, quần thể, loài,…có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình.

Đối với con người môi trường chứa đựng nội dung rộng lớn. Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa,..) và những cái vô hình(tập quán, niềm tin, nghệ thuật,..) trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình. Như vậy môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật con người mà còn là khhung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người.

3.      Tài nguyên là gì? / Định nghĩa

Tài nguyên là tất cả mọi dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới sinh vật.

Có hai loại tài nguyên: Tài nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi.

Tài nguyên có thể khôi phục: Là loại tài nguyên có thể thay thế hoặc phục hồi với điều kiện phù hợp sau một thời gian sử dụng. Ví dụ: Nguồn nước ra khỏi nhà máy thủy điện, vật nuôi, cây trồng,..

Tài nguyên không thể khôi phục: Là loại tài nguyên phần lớn do quá trình địa chất tạo ra. Ví dụ các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt,…) Các loại tài nguyên này , sau khi sử dụng thì mất đi, không thể nào khôi phục.

Ngoài cách phân loại trên, cũng có cách phân chia tài nguyên ra làm hai loại: tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn.

Dù có nhiều cách giải thích nhưng tất cả đều thống nhất: Nếu không biết giữ gìn, quàn lý và khai thác tốt thì tài nguyên cũng sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt

4.      Tài nguyên đất và ô nhiễm môi trường đất

a.      Định nghĩa tài nguyên đất: Đất là một vật thể tự nhiên cấu tạo lâu đời do kết quả cấu tạo của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố gồm: Đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thời gian.

Đất là vật mang tất cả hệ sinh thái, người ta ví đất như một cơ thể sống.

b.      Thành phần của đất:

Chất vô cơ: là thành phần chủ yếu tạo nên đất, chiếm tới khoảng 97- 98% (so với lượng khô kiệt), nó gồm 4 yếu tố cơ bản sau: oxy, Si, Nhôm, và Sắt. Bốn yếu tố này chiếm tới 93% khối lượng đất.

Sau đó là 5 nguyên tố: H, C, S (lưu huỳnh), P (photpho), N (nito).

Các chất hữu cơ cấu tạo nên đất chỉ chiếm vài %

Nguồn hữu cơ có trong đất do xác bả động thực vật, vi sinh vật thì cây xanh cung cấp nguồn rất lớn. Khi cây xanh mục nát ra, dưới sự tác động của vi sinh vật, không khí, nước và nhiệt độ thì tạo ra chất hữu cơ. Chất này cây xanh lại hấp thụ qua rễ (người ta gọi là chất khoáng). Chất hữu cơ phân hủy diễn ra theo 2 chu trình:

-         Chutrình khoáng hóa: Khoáng hóa là phá hủy các chất hữu cơ để chúng biến thành hợp chất vô cơ đơn giản như: muối khoáng, nước (H2O), cacbonit (CO2), NH3, H2S,…

-         Chutrình mùn hóa: là quá trình tổng hợp các chất vô cơ và hữu cơ thành hợp chất cao phân tử màu đen, người ta gọi là mùn.

c.      Chutrình ở trong đất

Carbon (C)  có rất nhiều trong thiên nhiên, là thành phần chủ yếu tạo nên thế giới sinh vật. Trong những nguyên liệu nằm ở đất carbon chiếm phần nhiều như: khí đá, đá than cháy, khí đố, dầu mỏ, đá phiến cháy, đá vôi, đá NACO3

-         Chu trình Carbon (C)  là một trong những nguyên tố quan trọng đối với sự sống. Chu trình của nó từ khí quyển đi vào thế giới thực vật, từ thực vật đi vào động vật, từ động vật đi vào thế giới vô sinh.

Như vậy, cây xanh được ví lá phổi của trái đất, nó làm nhiệm vụ hút khí Co2 và nhã O2 giúp sự sống cho con người.

Sở dĩ O2 thiếu là do phá rừng mà CO2 thì độc nên hại sức khỏe của con người, phần còn lại do các xí nghiệp gây ô nhiễm,…CO2 quan trọng đối với cây xanh nhưng hại người.

- Chu trình Nitơ (N): Hay còn gọi là Azốt (không duy trì sự sống), người ta không thể thở oxy nguyên chất mà phải thở không khí trong đó có oxy. Thì trong không khí N chiếm 78%.

N có trong vô số các hợp chất hữu cơ như protein (đạm) và các axit (Acidamine)

Trên trái đất nếu như không có mặt N thì không có sự sống. Trong cơ thể người N chiếm tới 3%, trong không khí N chiếm 78%, trong đất N sản sinh ra vi khuẩn cộng sinh (vi khuẩn cộng sinh thường ở trong các nốt sần của rễ cây hoặc ở trong vỏ đậu tương, nành, xanh,…) đây là vi khuẩn có ích.

-         Chutrình lưu huỳnh (S): S thường ở dưới dạng hợp chất sulfua hoặc sulfat. S được tạo ra do quá trình núi lửa phun hoặc do đá trầm tích (đá dưới biển), do các chất thải trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,…nó bay vào không khí theo mưa thấm vào đất. Rễ thực vật hấp thụ S để tổng hợp các Acid amin. S có nhiều trong rừng cây ngập mặn. Sau này thực vật, động vật chết đi trả lại S cho đất. S thải ra biển, các sinh vật thủy sinh hấp thu S. Con người ăn các thực vật đó.

-         Chu trình Phosphoric (P): (là một chất cấu tạo nên), trong động vật P có nhiều trong xương, trong cơ bắp, trong mô não và dây thần kinh

Người trưởng thành P chiếm 5kg chủ yếu ở xương.

P tồn tại trong khoáng vật (Apatite- sự lừa dối) vì nó tồn tại dưới nhiều màu sắc khác nhau, luôn luôn thay đổi.

Trong các màu sắc thì P màu trắng rất độc, gây bỏng thì khó lành.

Trong các phân khoáng (phân lân, NPk) có hợp chất P. Phân lân rất cần cho cây lúa, cây công nghiệp và cây ăn trái. Người ta dùng P để làm thuốc trừ sâu. P trắng rất độc nên để trong bình kính của kim loại không bán ra thị trường

 

5.      Tình hình ô nhiễm môi trường đất

a.      Trên thế giới: diễn ra rất nhiều, do thải bỏ nhiều chất thải không hợp lý như: chất thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt.

b.      Ở Việt Nam:Tình hình ô nhiễm môi trường đất nặng nhất 2 địa phương là Hà Nội và Tp.HCM, ngày càng trở nên trầm trọng.

Nguyên nhân ô nhiễm:

-         Do tập quán phản vệ sinh dẫn đến ô nhiễm môi trường đất

-         Do hoạt động nông nghiệp, người ta có thói quen dùng chất thải của súc vật.

-         Dùng phân Bắc (phân người)

-         Bón phân hóa học không đúng kỹ thuật, không đúng cách cũng gây phá hoại đất, làm đất chua, bị chai không thấm được nước.

-         Sử dụng nguồn nước thải ở thành phố để tưới tiêu

-         Đất bị ô nhiễm do chất thải trong công nghiệp. Hiện nay chất thải bỏ trong công nghiệp là thủ phạm chính gây ô nhiễm môi trường đất.

Đất bị ô nhiễm do tác nhân phóng xạ.

Đất bị ô nhiễm do nhiều tác nhân sinh học như: bệnh từ người truyền cho đất, hoặc từ động vật truyền cho đất.

Có thể do ô nhiễm không khí bị lắng đọng xuống

Đất còn bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật.

Chú ý: chất phóng xạ có thể gây ô nhiễm cho đất bằng việc làm đất thừa hoặc thiếu các nguyên tố vi lượng.

6.  Ô nhiễm không khí:

a.      Vai trò của không khí: người ta có thể nhịn ăntrong 2 tuần , nhịn uống trong 2 ngày nhưng không nhịn thở được vài phút. Một ngày một người bình thường cần 2lit nước, cần 1,5kg thức ăn nhưng phải cần tới 14kg không khí, 14kg không khí tương đương 12m3 không khí. Tóm lại, không khí rất cần cho cuộc sống.

Khi không khí bị ô nhiễm gây ảnh hưởng trực tiếp cho sức khỏe, làm giảm chất lượng nước. Không khí bị ô nhiễm làm cho đất bị chua, do mưa Acid

Không khí ô nhiễm làm thay đổi thời tiết khí hậu

Không khí ô nhiễm sẽ phá hủy các công trình

Người ta chia không khí ra làm nhiều tầng, tùy theo đối tượng nghiên cứu mà tên gọi các tầng khác nhau.

-         Thành phần của không khí: có các chất sau:

©N (nito) chiếm 78,08%

©Oxy (O2) chiếm 20,946%

©Ar (Argon) chiếm 0,934% (=-1%)

©CO2 (carbon đioxit) chiếm 0,0314%

©Ne (Neon) chiếm 0,0018%

©He (Heli) chiếm 0,0005%

©CH4 (Metan) chiếm 0,0002%

©Kr (Krypton) chiếm 0,0001% không khí trong sạch

Ngoài ra không khí gần mặt đất còn có bụi, khói, sương mù và phấn hoa và có cả vi khuẩn trong không khí.

Không khí dưới mặt đất nhiều vi khuẩn hơn không khí trên cao, không khí ở thành thị ô nhiễm hơn không khí ở nông thôn, không khí ở đồng bằng ô nhiễm nhiều hơn không khí ở rừng núi.

Trong không khí người ta còn có nhiều hình tượng người ta gọi là son khí (có lợi và hại: ví dụ: sương mù, hơi trong miệng,…).

b.      Thế nào là ô nhiễm không khí: Là trong không khí có nhiều chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí gây nên tác động có hại như sự khó chịu.

Trong không khí có nhiều chất gây ô nhiễm như: Carbonic (CO2), CH4 (Metan), N2O, CFC, chất rắn, chất lẫn, vi khuẩn, vi rút, nấm, phấn hoa, bụi than, bụi xi măng, bụi amiante, bụi hạt nhân làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật

Những tác nhân gây ô nhiễm chia làm 2 loại: Sơ cấp và thứ cấp

Những chất thường gặp khi không khí bị ô nhiễm:

-         Oxit carbon (CO): là một chất rất quan trọng đối với đời sống, nó có chu trình carbon. Trong không khí thì carbon là một thành phần cấu tạo nên không khí nhưng carbon có nhiều trong không khí vượt quá mức cho phép là do người ta sử dụng xe có động cơ, nhất là xe đốt bằng xăng. Trong công nghiệp carbon nhiều nhất các khu luyện gang thép, có nhiều trong sản phẩm đất đèn (giỏ đá), trong những vùng nổ mìn, phá đá, trong việc khai khoáng, nhất là khai thác và sử dụng than đá. Carbon không độc đối với thực vật nhưng rất độc đối với người.

-         Dioxit sulfur (SO2): còn gọi là khí lưu huỳnh, dạng khí hoặc rắn, không cháy có mùi hơi hăng và cay gây phản xạ ngạt thở. SO2 là sản phẩm của ngảnh công nghiệp nhiệt điện có nhiều SO­2. Ví dụ: xăng dầu, độc tính: gây niêm mạc mắt và vào đường hô hấp.

-         NO: Chất này do hoạt động các vi sinh vật các vi khuẩn, do sinh hoạt của con người sản sinh ra.

-         C6H6 (benzen): nó kết hợp với không khí tạo thành hổn hợp dễ nổ, người ta kết hợp với ete (xăng) nó khó tan trong nước nhưng dễ tan trong dung môi hữu cơ. Con đường xâm nhập của C6H6 do bốc hơi, thường tồn đọng nhiều nơi không thông gió, người ta sử dụng C6H6 để chế tạo vecni, đánh bóng, sơn, men (bát chén), matit, làm mực in, chế tạo da mềm, vải áo mưa, vải giả da, chất bảo quản,… Độc tính của C6H6 là ảnh hưởng trực tiếp hệ thần kinh, gây nhiễm độc mãn tính nó tác dụng trên tủy xương đi qua đường tiêu hóa, tiếp xúc C6H6 lâu ngày dẫn đến bệnh bạch cầu.

-         CH4 (methan): là một loại khí, nó là một trong những thủ phạm gây ra làm cho xuất hiện nhiều nhà kính (trái đất nóng lên). CH4 được sản sinh quá trình sinh học, lên men, nhất là trong đường ruột trâu bò, dê, cừu hoặc ở những vùng đất ngập nước lâu ngày. Sự phân giải của những nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu khí) do cháy rừng. CH4 thường nặng hơn không khí nên thường ở vùng trũng và thấp, có lửa là phát nổ.

 

c.      Mưa Acid: trên thế giới hiện nay con người đứng trước 3 thảm họa đó là mưa acid, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, cạn kiệt tầng ozon.

Nước mưa nguyên chất có độ PH = 5,0 (bởi các chất hòa tan được có cả CO2) khi không khí bị ô nhiễm do hoạt động công nghiệp, do giao thông vận tải thì nước mưa độ PH giảm thấp chỉ còn PH = 2,0 à2,5 trong trường hợp này người ta gọi là mưa acid.

-         Nguyên nhân dẫn đến mưa acid: Do đốt những nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ,…), do những nhiên liệu hóa thạch này chứa lưu huỳnh, khi đốt cháy chúng biến thành sulfurơ (SO4), ở trong không khí kết hợp với nước thành H2SO4.

-         Khắc phục bằng cách:

sDo một số loại quặng đồng chứa nhiều lưu huỳnh

sDo hoạt động của núi lửu

sDo sự mục nát của các loại thực vật nhưng chủ yếu do hoạt động của các nhà máy nhiệt điện, của công nghiệp và giao thông vận tải.

-         Hậu quả của mưa Acid: Mưa Acid xuống các ao hồ, các thủy vực làm các động vật thủy sinh bị chết, làm những đột cây quăng lại, giảm năng suất cây trồng, giảm tuổi thọ máy móc, có mùi hôi khó chịu, có hại cho sức khỏe.

-         Biện pháp hạn chế tác hại của nó: nhà máy xí nghiệp hạn chế, sử dụng mới, hạn chế phương tiện cá nhân, tăng cộng đồng (xe bus), hạn chế khai thác quặng đồng,…

d.      Hiệu ứng nhà kính: Trái đất ấm ở nhiệt độ con người sống được là do sự bức xạ của mặt trời và do carbonit trong không khí giữ lại lượng bức xạ đó. Nếu không có cơ chế này thì trái đất ở thời kỳ băng hà -80C con người không thể sống được nhưng trong không khí hàm lượng CO2 tăng lên nó hấp thu nhiều bức xạ mặt trời đến trái đất nóng lên vượt qua ngưỡng / hiệu ứng nhà kính, người ta gọi là hiện tượng nóng lên của trái đất. (CO2 giữ nhiệt: do phá rừng, do công nghiệp ô nhiễm làm ô nhiễm không khí, làm không khí nóng lên ảnh hưởng đến hiệu ứng nhà kính, CO2 quá nhiều do con người sắm nhiều xe,…

Một số chất khí trong hiệu ứng nhà kính như CO2, CFC, CH4, O3, NO trong đó nặng nhất là CO2, CFC tất cả do con người.

Nguyên nhân của việc gia tăng nồng độ hiệu ứng nhà kính:

-         Do người ta đốt nhiên liệu hóa thạch nên thải nhiều CO2

-         Làm thủy điện nên tàn phá rừng dẫn đến CO2 tăng

-         Do canh tác của con người khai hoang vỡ hóa, đô thị hóa nhà ở, phá rừng.

-         Do khai thác các khí thiên nhiên, dầu khí,…

-         Do đố rừng

-         Do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch bừa bãi

Hậu quả của việc trái đất nóng lên:

-         Trái đất nóng lên làm thay đổi lớp phủ thực vật toàn cầu, làm thay đổi chế độ thủy văn (thủy triều).

-         Trái đất nóng lên làm những vùng tảng băng, vĩnh cực bắt đầu tan chảy (nước biển dâng cao, ngập nước nhà dân, làm lượng muối nước biển giảm, ảnh hưởng đời sống thực vật-tuyệt chủng).

-         Trái đất nóng lên làm nhiệt độ tăng làm mưa, mùa thay đổi, hạn hán kéo dài.

-         Trái đất nóng lên làm thay đổi chủng loại các hệ sinh thái.

-         Trái đất nóng lên làm sâu bọ phá hoại phát triển nhanh, làm xuất hiện nhiều dịch bệnh mới. Đặc biệt muỗi gây bệnh sốt rét phát triển, dịch tả, cúm, viêm cuống phổi, bệnh ngoài da, nhức đầu, tay chân miệng phát triển.

e.      Cạn kiệt tầng ozone (O3):

Ozone được hình thành trong tầng bình lưu do bức xạ của mặt trời cho nên trong quá trình quang ly phân tử oxy bị phân rẽ rã thành 2 nguyên tử oxy. Sau đó nguyên tử oxy kết hợp phân tử oxy tạo thành O3 (ozone). O3 được hình thành nhiều nhất ở vùng xích đạo và đối xích đạo (vì vùng này nhận được nhiều ánh sáng mặt trời nên quá trình quang ly mạnh) từ đó O3 tỏa về 2 cực của trái đất (cực bắc và cực nam) nên tầng O3 dày nhất là ở xích đạo (18km) và mỏng nhất là cực bắc và nam (8km)

Tác dụng của O3: người ta ví nó như một áo giáp che chở cho trái đất, chống lại tia cực tím của mặt trời. Người ta thấy rằng:

-         Tia cực tím của mặt trời gây bệnh ung thư da.

-         Tia cực tím của mặt trời gây mù lòa vĩnh viễn, không chữa được.

-         Tia cực tím của mặt trời gây ra việc tiêm chủng sức đề kháng kém.

-         Tia cực tím của mặt trời gây ra tác hại gan di truyền, quái thai.

-         Tia cực tím của mặt trời tăng hiện tượng sương mù, mưa Acid làm gia tăng các bệnh về hô hấp, ảnh hưởng xấu về mùa màng, các loài sinh vật của biển bị hủy hoại, làm tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính.

Nguyên nhân cơ bản đe dọa phá hủy tầng Ozone:

-         Chất thải từ các hạm đội máy bay siêu âm, máy phản lực.

-         Những chất hóa học: CFC, chất tẩy rửa, chất chống cháy và các chất hóa học khác.

-         Do hoạt động công nghiệp phá hủy tầng O3

Bắc cực 2 triệu O3 thủng. Nam cực hơn 1 triệu O3 thủng, điều này đã gây ung thư da.

­Biện pháp giải quyết:

1. Khắc phục hiệu ứng nhà kính

Tiết kiệm năng lượng. vì đa phần nguồn điện năng được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch như: dầu khí, than đá,... làm khí CO2 tăng mạnh, gây hiệu ứng nhà kính

- Nên sử dụng năng lượng tự nhiên. Tắt điện khi đi ra ngoài, tiết kiệm năng lượng

- Tiết kiệm năng lượng khi di chuyển. Nên đi các phương tiện công cộng như xe Bus, hạn chế mỗi người một xe máy, vì khói xe thải nhiều khí CO2. Tiết kiệm để bảo vệ môi trường.

- Bỏ bếp dầu lửa, bếp than, xài bếp gas, khí đốt, sử dụng hàng trong nước. Vì khi xài hàng nước ngoài, vận chuyển tốn nhiều sức lực, tiền bạc, bảo quản tốn nhiều nhiêu liệu, không tốt cho môi trường.

- Sử dụng giấy tiết kiệm, không dùng bao nilon, dùng bao giấy, nên tái chế giấy,... để bớt chặt phá cây, bảo vệ môi trường.

- Nên trồng nhiều cây xanh, trồng rừng, dung hòa khí CO2, thời tiết ổn định, tạo dựng môi trường tốt cho đời sống.

- Các ngành công nghiệp nên đầu tư công nghệ tiên tiến, có nơi xử lý chất thải gây độc, bảo vệ môi trường sống cho con người.

- Phật giáo: Đạo Phật dạy con người ăn chay để bảo vệ môi trường, bảo vệ tầng ô zôn. Vì nuôi súc vật tốn nhiều nước, nhiều lương thực, thực phẩm. Khi chúng thải phân tạo nhiều khí độc CH4, khí này ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm thủng tầng ô zôn, hiệu ứng nhà kính ngày một nóng hơn. Do vậy, nên ăn chay để bảo vệ môi trường, giảm bớt chăn nuôi.

2. khắc phục mưa Acid

- Phải tuân thủ nghiêm ngặt về các quy định xử lý chất thải trong công nghiệp. Vd: gốc: Sox, SO2, SO3, NO2, NO,...

- Đổi mới công nghệ sản xuất giảm khí CO2, SO2 từ các nhà máy nhiệt điện bằng cách lắp các thiết bị khử SOx, Nox.

- Dùng công nghệ khử S (lưu huỳnh) và khí N (nitơ) trong dầu mõ và than đá trước khi sử dụng.

- Cải tiến công nghệ động cơ đốt. Vd: máy dầu, xăng xe máy,... nhằm hạn chế lượng Nox, Sox thải ra không khí.

- Sử dụng nguyên liệu sạch như hidro (H), xăng thay nhiên liệu, hóa thạch dầu mõ

3. Khắc phục thủng tầng ozon

- Giảm ô nhiễm không khí do xe cộ và các chất thải, các thiết bị có khí thải như máy lạnh, máy dầu xe,...

- Tiết kiệm năng lượng nước trong nhà và nơi làm việc. Tiết kiệm nhiệt lượng ánh sáng, nên dùng ánh sáng tự nhiên.

- Tham gia các sự kiện giao thông công cộng, hạn chế dùng cá nhân

- Sử dụng các sản phẩm dân dụng, gia dụng không có chất CFC (trong máy lạnh).

- Nhà nên sơn bằng cách quét, không nên phun

- Giảm dùng bao bì nhựa, xốp, nên dùng bao giấy

- Ngăn chặn cháy rừng. Trồng cây gây rừng, bảo vệ cây xanh, tất cả vì môi trường sống của chúng ta.

 

7.      Sinh thái và cân bằng sinh thái.

 

Hệ sinh thái: là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó.

Đối tượng nghiên cứu của sinh thái học có 4 mức tổ chức khác nhau từ thấp đến cao.

-          Cá thể: chỉ các loài riêng biệt

-          Quần thể: chỉ một nhóm cá thể của bất kỳ một loài sinh vật nào

-          Quần xã: bao gồm tập hợp tất cả các chủng quần sống cùng trong một sinh cảnh.

Cấu trúc hệ sinh thái gồm 4 phần cơ bản:

-          Môi trường: gồm các nhân tố vật lý, hóa học bao quanh sinh vật

-          Vật sản xuất: bao gồm vi khuẩn và cây xanh

-          Vật tiêu thụ: Bao gồm các động vật

-          Vật phân hủy: Là các vi khuẩn và nấm, chúng phân hủy các chất hữu cơ. Tính chất dinh dưỡng đó gọi là hoại sinh, chúng sống nhờ vào các sinh vật chết, chúng phá vỡ các hợp chất hữu cơ đơn giản mà cây xanh có thể sử dụng được,…

Cân bằng sinh thái: Các hệ sinh thái tự nhiên đều có khả năng tự điều chỉnh riêng, nói theo nghĩa rộng đó là khả năng tự lập lại cân bằng. Sự cân bằng này cũng có nghĩa là sự cân bằng giữa vật sản xuất và tiêu thụ và vật phân hủy. Sự cân bằng này gọi là cân bằng sinh thái. Nhờ sự tự điều chỉnh mà hệ sinh thái tự nhiên giữ được ổn định mỗi khi chịu sự tác động của nhân tố ngoại cảnh, có điều sự tự điều chỉnh của hệ sinh thái cũng chỉ có giới hạn. Nếu vượt quá giới hạn này, hệ sinh thái sẽ mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là hệ sinh thái bị phá vỡ.

Hệ sinh thái tự nhiên có đặc điểm là tự cân bằng nghĩa là một khi bị thay đổi vì một nguyên nhân nào đó thì nó có thể tự phục hồi để trở về trạng thái ban đầu. Sự phục hồi cân bằng sinh thái được thực hiện qua các cơ chế sau:

-          Cân bằng thông qua sự điều chỉnh số lượng quần xã:điều chỉnh bằng cách kìm hãm và hạn chế lẫn nhau. Sự điều chỉnh này có thể thông qua các hình thức như giảm mức sinh sản, tăng tỉ lệ tử vong, cạnh tranh, di cư, thậm chí ăn thịt lẫn nhau. Do thiếu nơi ở và thức ăn, nhiều chim thú trong cùng một loài cạnh tranh, giành dật nhau quyết liệt, lúc này những cá thể mạnh hơn những cá thể yếu hoặc tạo ra sự phân hóa. Một số trường hợp do cạnh tranh đã dẫn đến sự di cư theo chu kỳ, một số loài khi mật độ quần thể tăng thì giảm mức sinh sản, nhờ đó mà giữ được sự ổn định tương đối về số lượng cá thể của quần thể.

-          Cân bằng thông qua mối quan hệ phụ thuộc giữa các loài trong thiên nhiên: Nhờ sự điều chỉnh của sinh vật, nhờ mối quan hệ tương hổ và sự lựa chọn lâu đời giữ các loài trong mỗi vùng, mỗi hệ sinh thái đã hình thành các mối quan hệ giữa động vật với thực vật, giữa vi sinh vật với động vật và thực vật trong một thế cân bằng ổn định và mỗi một loài ở trong vùng đã thích ứng được với thế cân bằng đó. Nhờ vậy mà trong thiên nhiên sự cân bằng sinh thái ở khắp mọi nơi. Trong hoàn cảnh vì những biến đổi lớn như những thiên tai hoặc sự phá hoại của con người thì sự cân bằng đó sẽ bị phá hủy và sự tạo lập lại thế cân bằng phải trải qua thời gian dài mới khôi phục được,…

Sự mất cân bằng trong hệ sinh thái, lúc đầu thường xảy ra cho vài thành phần sau đó mở rộng sang thành phần khác và có thể đi từ hệ sinh thái này sang hệ sinh thái khác.

Sự tự điều chỉnh của hệ sinh thái là kết quả của sự tự điều chỉnh của từng cơ thể, của những quần chủng, của quần xã mỗi khi một nhân tố sinh thái thay đổi. Các nhân tố sinh thái chia làm 2 nhóm:

+ Nhân tố sinh thái giới hạn.

+ Nhân tố sinh thái không giới hạn.

8        Định nghĩa Ô nhiễm môi  trường nước

Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác với trạng thái ban đầu khi chưa bị ô nhiễm. Đó là sự biến đổi về lý tính, hóa tính và vi sinh vật, làm cho nước trở nên độc hại. Sự thay đổi này có tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.

Tính chất lý học của nước: thể hiện ở màu sắc, mùi vị, độ trong suốt.

a.      Màu sắc:

-          Nước tự nhiên sạch thì không màu

-          Màu xanh đậm hoặc xuất hiện váng bọt màu trắng đó là biểu hiện của trạng thái thừa dinh dưỡng hoặc phát triển quá mức của thực vật nổi và sản phẩm phân hủy thực vật đã chết.

-          Màu vàng bẩn do quá trình phân hủy các chất hữu cơ làm xuất hiện acid humic (acid mùn) hòa tan và nước có màu vàng bẩn.

Tất cả các màu sắc đều tác động bởi số lượng, chất lượng của ánh sáng mặt trời chiếu tới theo chiều sâu và do đó ảnh hưởng tới hệ sinh thái nước.

b.      Mùi và vị

-          Nước cất không có mùi, còn vị tự nhiên là do sự hiện diện của các chất hòa tan ở lượng nhỏ. Mùi có 2 nguồn gốc

+ Do sản phẩm phân hủy các chất hữu cơ trong nước. Ví dụ: nước thải, sinh vật trôi nổi đã chết hoặc xác các sinh vật khác,…

+ Do nước thải công nghiệp có chứa những hóa chất khác nhau mà mùi vị của nước sẽ đặc trưng cho từng loài.

c.       Độ đục

Nước tự nhiên thường bị vẩn đục do những hạt keo lơ lửng. Các hạt lơ lửng có thể là sét, mùn, vi sinh vật. Độ đục làm giàm cường độ ánh sáng chiếu qua và giảm khả năng sử dụng nước. Nước ở gần các khu công nghiệp bị vẩn đục vì trong nước có:

-          Lẫn bụi và các hóa chất công nghiệp

-          Hòa tan và sau đó kết tủa các hóa chất ở dạng rắn

-          Làm phân tán các hạt đất do cân bằng điện tích của các phức hệ hấp thụ đất bị phá vỡ.

Độ vẩn đục là dấu hiệu nhỏ của ô nhiễm nước. Tuy nhiên, nếu trong sinh hoạt mà không loại bỏ nó đi thì dễ dẫn đến các bệnh đường ruột,…

d.      Nhiệt độ

Nguồn gốc gây ô nhiễm nhiệt chủ yếu từ:

-          Nước thải các nhà máy nhiệt điện dùng nước để làm mát các turbin

-          Nước thải từ các nhà máy sản xuất phân bón thường có nhiệt độ khoảng 50độ C

Nhiệt độ thấp hay cao có ảnh hưởng nhất định đến tốc độ phát triển của cây trồng và quá trình sinh trưởng của sinh vật sống trong nước. Nhiệt độ thấp sẽ làm chậm quá trình phát triển của cây trồng. Nhiệt độ vừa thì quá trình sinh trưởng của cây trồng kéo dài. Nhiệt độ cao thì không tốt.

9.      Nguồn gây ô nhiễm nước:Có nhiều loại nguồn gây ô nhiễm nước, kể cả nguồn nước mặt lẫn nước ngầm tất cả đều do hoạt động sản xuất của con người cũng như sinh hoạt của con người tạo nên. Có 2 nguồn gây ô nhiễm cơ bản:

a.       Nước thải sinh hoạt:Gồm nước thải từ:

-          Các hộ gia đình:

-          Khách sạn

-          Trường học

-          Cơ quan

-           Doanh trại quân đội

-          Bệnh viện

Đặc điểm cơ bản của loại nước thải này:

-          Có hàm lượng cao chất hữu cơ không bền vững dễ phân hủy sinh học

-          Các chất dinh dưỡng (phosphat, nitơ).

-          Nhiều vi trùng

-          Nhiều chất rắn và mùi,…

b.      Nước thải công nghiệp: gồm

-          Nước thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất lớn.

-          Nước thải từ các cơ sở sản xuất nhỏ

-          Nước thải từ các khu vực giao thông vận tải…

Đặc điểm: Nước thải công nghiệp không có những đặc điểm chung mà phải dựa vào tính chất công việc của từng xí nghiệp mà định.

 Ví dụ:

-          Nhà máy làm acqui thì nước thải sẽ có acid, chì,…

-          Nhà máy chế biến sữa, thịt, đường, tôm đông lạnh, nước ngọt, rượu bia thì nước thải sẽ chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy.

-          Nước thải nhà máy thuộc da, ngoài chất hữu cơ còn nhiều kim loại nặng, sulfua,…

Một số đặc điểm cần chú ý là nước thải từ bất cứ một nhà máy xí nghiệp nào cũng đều bao gồm:

-          Nước thải sinh hoạt

-          Nước thải do sản xuất công nghiệp

-          Nước thải do mưa

c.       Nước chảy tràn mặt đất:gồm

-          Do mưa rơi xuống: mặt đất, đường phố, nhà cửa, đồng ruộng…

-          Do nước thải từ các đồng nuộng: nhiều thuốc trừ sâu, phân hóa học,…

Đặc điểm:

-          Chứa nhiều chất rắn

-          Nhiều vi trùng

-          Nhiều thuốc trừ sâu, phân bón,..

Kết quả: tất cả nguồn nước bẩn đó đều kéo ra sông suối hoặc thấm vào mạch nước ngầm làm cho nguồn nước mặt hoặc mạch nước ngầm ô nhiễm.

d.      Do những yếu tố tự nhiên: Như sự lan truyền nước nhiễm phèn, nhiễm mặn.

10. Tác nhân gây ô nhiễm: có 8 loại cơ bản

a.      Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học hoặc các chất tiêu thụ Oxy.

Đây là những chất gây ô nhiễm nặng nhất ở các khu dân cư, khu chế biến thực phẩm. Tác hại cơ bản của những chất này là làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, từ đó dẫn đến suy thoái tài nguyên thủy sản và suy giảm chất lượng nước sinh hoạt.

b.      Các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học

Các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học thường là những chất hữu cơ có độc tính cao. Một số có tác dụng tích lũy và tồn lưu lâu dài trong môi trường và trong cơ thể thủy sinh vật, từ đó dẫn đến ô nhiễm lâu dài đồng thời tác hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái dưới nước.

Một số  chất hữu cơ bền vững có độc tính cao đó là:

-          PCP (polyclorophenol)

-          PCB (polyclorobiphenol)

-          Các hydratcarbon đa vòng ngưng tụ

-          Hợp chất dị vòng N và O

-          Các thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ.

Một số chất tiêu biểu của các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học:

 Hóa chất bảo vệ thực vật với vấn đề ô nhiệm môi trường. Hiện nay trên thế giới hóa chất bảo vệ thực vật ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp để bảo vệ cây trồng và đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người,…

Nói chung, hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm:

-          Thuốc trừ sâu (insecticide)

-          Thuốc trừ bệnh: nấm (fungicide), vi khuẩn (bactericide)

-          Thuốc trừ cỏ (herbicide)

-          Thuốc trừ rong tảo (algicide)

Các chất hóa học này tập trung chủ yếu vào 3 nhóm sau:

 Nhóm clo hữu cơ(chlorinated hydrocarbons)

Bao gồm những hợp chất hóa học rất bền vững trong môi trường tự nhiên và có thời gian bán phân hủy kéo dài, ví dụ DDT có thời gian bán phân hủy trong môi trường tự nhiên tới 20 năm. Các chất này dần dần được tích lũy trong chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái, trong các mô dự trữ của sinh vật. Nhóm thuốc này gây nhiều mối lo ngại nhất hiện nay vì khi chúng đi vào cơ thể sinh vật chúng sẽ được tích lũy lại và ít được đào thải ra ngoài.

 Nhóm lân hữu cơ (organic phosphates): bao gồm 2 hợp chất là Parathion và Malathion. Nhóm thuốc này có thời gian bán phân hủy nhanh nhưng độc tính cao hơn so với nhóm hữu cơ song thường có độ độc hại cao đối với con người, động vật và đang được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.

 Nhóm Carbamat: gồm những hóa chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên song cũng có độc tính cao đối với người và động vật. Đại diện cho nhóm này là các hợp chất carbamat acid như Sevin, Furadan, Basa, Mipcin. Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men cholinestraza tác động của hệ thần kinh.

Thuốc trừ sâu diệt cỏ xâm nhập vào các nguồn nước bằng nhiều con đường:

-          Rửa trôi bề mặt đất nông nghiệp

-          Do gió thổi khi đang phun

-          Những hạt bụi trong không khí nhiễm thuốc trừ sâu và lắng đọng xuống.

-          Nước thải sinh hoạt, công nghiệp.

-          Do phun thuốc diệt muỗi ở những vùng đất ướt và trũng nước.

-          Người nhiễm độc do hóa chất bảo vệ thực vật

-          Cá và các động vật khác cũng nhiễm độc trực tiếp ngay tại nơi phun thuốc hoặc do ăn phải những thức ăn bị nhiễm thuốc như côn trùng, uống nước nhiễm độc rồi chết.

-          Trong đất hóa chất bảo vệ thực vật thường gây hại cho nhiều loại sinh vật có ích, các vi sinh vật đất phân hủy chất thải, chất hữu cơ chuyển hóa nhiều nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cũng bị hại vì tồn dư của thuốc trừ sâu, làm giảm độ phì của đất.

 Thường xuyên tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật cần chú ý:

Đối với thuốc trừ sâu nhóm phospho hữu cơ: Đây là loại thuốc phân giải nhanh, không tích lũy trong cơ thể nhưng rất độc và nguy hiểm. Do đó đa số là ngộ độc cấp tính và gây tử vong. Sự nhiễm độc mãn tính có thể xảy ra ở những người sản xuất, pha chế hay công nhân nông trường thường xuyên thao tác với thuốc trừ sâu.

 Người nhiễm độc mãn tính:

-          Bị nhức đầu

-          Choáng váng

-          Đau hai bên thái dương

-          Giảm trí nhớ, mỏi mệt, ngủ không được

-          Chóng mặt, ăn không ngon

Khi bị nặng thì:

-          Rối loạn tinh thần và trí huệ

-          Run tay, run giật nhãn cầu

-          Viêm thần kinh, liệt thần kinh

-          Da bị sần, ngứa, chàm.

+ Đối với thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ: Các thuốc này phân giải khá chậm, tích lũy lâu trong cơ thể chủ yếu ở mô mỡ do đó dễ gây ngộ độc mãn tính với các biểu hiện chính ở hệ thần kinh.

Người ngộ độc mãn tính có cảm giác:

-          Khó chịu

-          Chuột rút, run chân tay

-          Ngoài da nổi ban đỏ, mụn nước

-          Ban xuất huyết do giảm tiểu cầu, xét nghiệm thấy mất bạch cầu đa nhân.

+ Đối với các loại carbamat: Độc tính của loại này là trung gian của hai loại trên. Thường xảy ra ngộ độc cấp tính và bán cấp hơn là mãn tính.

+ Đối với phospho hữu cơ:

+ Đối với nhóm clo hữu cơ

 Phênol(C6H5OH)

Chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học số 2

Phênol là một loại chất gây ô nhiễm có mặt trong nguồn nước thải của các ngành công nghiệp luyện kim đen, luyện than cốc, công nghiệp dệt,…

Trong nước bùn thải của nhà máy luyện than cốc, hàm lượng phenol thường từ 28,4-45,1mg/kg bùn

Phenol làm cho nước có mùi đặc biệt nhất là khi kết hợp với clo và tạo thành clorophenol có mùi làm buồn nôn.

 Tannin và lignin: là các hóa chất có nguồn gốc thực vật.

 

c.       Các chất vô cơ

Các ion vô cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là nước biển.

Trong nước thải từ các khu dân cư luôn có một lượng khá lớn các ion Cl-, SO42-, PO43-, Na+, K+,…

Trong nước thải công nghiệp ngoài các ion trên còn có các chất vô cơ có độc tính cao như Hg, Pb, Cd, As, Sb, Cr, F,…

Một số chất vô cơ tiêu biểu trong nước thải:

1.      Amoni (NH4+)

2.      Nitrat (NO3)

Nguyên nhân dẫn đến sự có mặt NO3 và các muối nitrat ở trong nước:

-          Từ nguồn nước thải sinh hoạt

-          Do các chất sử dụng trong nông nghiệp như: Nitrat kali, Ammoni kali nitrat

-          Nước thải từ các trại chăn nuôi

-          Do cấu tạo địa chất có các vỉa: Kali nitrit (KNO2), Natri nitrit (NaNO2)

Ảnh hưởng của NO2 và NO3 đối với cơ thể con người:

NO2, NO3 xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách. Nếu từ phương diện nước ô nhiễm đi vào cơ thể thì đó là từ việc ăn uống những thực phẩm, những hoa quả, rau củ,… có chứa một hàm lượng NO2, NO3 vượt quá tiêu chuẩn cho phép mà ra.

Ví dụ: Hàm lượng No3 trong nước uống không được lớn hơn 10 mg/l. Gốc của phân đạm rau non, trái cây hư, … độc vô cùng.

Trong bảo quản thực phẩm, người ta sản xuất các loại “xúc xích” thường bỏ một ít nitrit natri (NaNO2) để cho “xúc xích” có màu đỏ đẹp… Nhưng nếu lượng NaNO2 này vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì vô cùng độc.

Trong các loại hoa quả, củ… người trồng trọt muốn đạt một năng suất, một sản lượng lớn đã bón, một lượng phân vượt tiêu chuẩn trong một thời gian ngắn. Lượng NO3 biến thành dư thừa rồi con người ăn những sản phẩm đó cuối cùng dẫn đến những hậu quả không lường.

Hoàn cảnh ngộ độc cấp tính:

Nạn nhân tưởng diêm tiêu (kali nitrat) là muối ăn hay đường ăn.

Trẻ em rất nhạy cảm và có thể ngộ độc rất nặng cho dù với lượng ít nitrat hay nitrit ở trong nước giếng hoặc ở trong rau quả cũng dễ dẫn đến ngộ độc. Vì vậy tuyệt đối không nên cho các cháu dưới 6 tháng tuổi ăn uống nước rau quả có bón nhiều phân hóa học.

Phosphat

sulphat (SO4)

clorua (Cl-)

clorua là một anion chính trong nước, nó kết hợp với các cation trong nước tạo nên vị mặn, nhưng nồng độ mặn còn phụ thuộc vào các cation kết hợp. Nếu kết hợp với Na+ thì mặn hơn khi kết hợp với Ca2+ hoặc Mg2+

Chữ cổ Hy Lạp “chloros” có nghĩa là vàng lục

Hàm lượng clo trong vỏ trái đất là 1,7 x 10-2 về khối lượng. Clo là khí nặng, nặng hơn không khí đến 2,5 lần, clo hóa lỏng ở -34, 050C.

Do tính chất hoạt động hóa học mạnh nên clo được sử dụng với một lượng lớn và rộng rãi trên nhiều lãnh vực, phạm vi ứng dụng của nó cũng gần như soda, amoniac (NH3), H2SO4.

Công dụng của clo. Clo được sử dụng để:

-          Tẩy vải trắng, cellulose trong công nghiệp dệt

-          Nhuộm, công nghiệp giấy

-          Khử trùng nước, tẩy uế, bảo dưỡng hồ bơi…

-          Clo hóa quặng trong luyện kim màu

-          Trong các phản ứng thủy phân tinh bột để sản xuất bột ngọt

-          Bảo quản nước tương, nước chấm

-          Để xử lý nước thải

d.      Kim loại nặng

vChì (Pb):y= 11,34g/cm3

Hàm lượng của chì trong vỏ trái đất là 1,6 x 10-3% khối lượng. Rất hiếm khi gặp chì tự sinh.

Chì có trong khoảng 80 khoáng vật và thường hay gặp nhất ở dạng sulfua PbS. Đó là khoáng vật dòn, có ánh kim, màu xám và được gọi là galen.

Công dụng của chì:Chì sử dụng trong những nhà máy làm pin, acquy. Chì azit Pb(N3)2 là một trong những thuốc mồi nổ quan trọng

Chì oxit PbO là một thành phần nhất thiết phải có trong phối liệu để nấu pha lê, làm công nghệ thủy tinh.

Chì (IV) oxit PbO2 được dùng để làm thuốc sát trùng.

Chì hấp thu tốt tia X và tia phóng xạ nên được dùng để bảo vệ chống các tia phóng xạ đó.

Bột chì trắng là muối chì trộn với sơn dầu, thành phần của muối thường được biểu thị bằng công thức 2PbCO3 . Pb(OH)2.

Một trong những bột màu đỏ quan trọng nhất là minium Pb3O4.

Độc tính của chì: Là kim loại nặng có độc tính cao đối với não và có khả năng gây chết đột ngột nếu nhiễm độc nặng.

Để phân biệt tính độc, người ta chia hai loại nguyên nhân nhiễm độc chì vô cơ và nhiễm độc chì hữu cơ.

+ Nhiễm độc chì vô cơ: Chì tác động mạnh vào hệ thần kinh của trẻ em làm giảm trí thông minh của trẻ.

Thường bị bệnh về não, bệnh nhân thường bị kích động những cơn dữ dội.

 Nhiễm độc chì vô cơ thường gây bệnh thấp khớp, viêm thận mãn, viêm gan thận, nước tiểu có lẫn hồng cầu và bạch cầu.

+ Nhiễm độc chì hữu cơ: Thường có trong xăng dầu

Nguyên nhân chì ngấm vào thực phẩm:

Bát đĩa tráng men có pha chì, những bát đĩa tốt cũng có từ 17 – 18mg chì trong 1lit acid acetic 4% khi đun.

Nước thải công nghiệp, khai khoáng, bụi khói của động cơ là nguồn gốc chủ yếu để lan truyền chì trong các hệ sinh thái.

vThủy ngân (Hg)

Thủy ngân là nguyên tố hiếm và phân tán, hàm lượng của nó vào khoảng 4,5 x 10-6% khối lượng vỏ trái đất.

Người ta tách được thủy ngân khi đun nóng khoáng vật chính của thủy ngân là thần sa HgS màu đỏ chói.

Trong tự nhiên đôi khi gặp thủy ngân tự sinh có lẽ cũng tạo nên từ thần sa.

Công dụng của thủy ngân:

Hiện nay: - 25% thủy ngân dùng trong công nghiệp sản xuất clorua và kiềm.

-          20% cho công nghệ điện kỹ thuật (tế bào thủy ngân, đèn huỳnh quang, bộ chỉnh lưu thủy ngân trong dòng điện xoay chiều.)

-          15% cho công nghệ nhuộm

-          10% cho công nghệ đo lường

-          5% cho thuốc sát trùng

-          3% cho nha khoa

-          2% dùng trong phòng thí nghiệm, các nhiệt kế.

Độc tính của thủy ngân:

Chế phẩm từ thủy ngân rất độc, hầu hết đều xếp bảng A, B.

Trên thế giới nhiễm độc thủy ngân khá phổ biến sau chì và benzen.

Hai bệnh về môi trường đầu tiên được con người ghi nhận là: Bệnh Minamata do thủy ngân và bệnh Itai do cadimium (đều xảy ra ở Nhật)

Thủy ngân xâm nhập vào cơ thể con người dưới nhiều dạng khác nhau mà dạng độc hơn cả đó là methyl thủy ngân khi hòa tan trong nước.

Biểu hiện nhiễm độc:

Ban đầu thì ăn không ngon, nhức đầu, sút cân, dễ cấu giận, mất ngủ, lo lắng, trầm uất, giảm trí nhớ, mất tự chủ. Sau đó, viêm miệng, lợi, loét niêm mạc miệng, rụng răng, mi mắt rung khi nhắm, run môi, lưỡi, ngón tay. Đầu tiên run tay khi viết sau đó run cả cánh tay và toàn thân, viêm thận, rối loạn thần kinh và dị dạng cơ thể, đó là hậu quả nhiễm độc thủy ngân.

Hiện tượng phân kim vàng dẫn đến ô nhiễm nguồn nước,…

vAsen (AS) – Thạch Tín

Nguồn gốc: Asen thường xuất hiện trong các:

-          Nhà máy thuộc da, sành sứ.

-          Nhà máy hóa chất, nhà máy làm thuốc bảo vệ thực vật

-          Quá trình nấu chảy đồng, chì, kẽm, sản xuất sắt thép.

-          Đốt rừng, cháy đồng cỏ, đốt chất thải, nhà máy sản xuất thủy tinh, núi lửa,…

Nguồn gốc tự nhiên sản sinh As:

-          Núi lửa hoạt động sản sinh  từ 7.000 – 17.000 tấn/năm

-          Xói mòn do gió 2.000 – 2.500  tấn/năm

-          Lửa rừng và bụi đại dương bay hơi ở nhiệt độ thấp 16.000 – 26.000 tấn/năm

Nguồn gốc nhân tạo sản sinh As:

-          Do nấu đồng: Sản xuất 1 tấn đồng sẽ có 3,5 – 3,9 kg As được giải phóng, ước tính hàng năm do nấu đồng đã có 12.080 tấn/năm As đưa vào khí quyển.

-          Do nấu chì: 1.430 tấn/năm

-          Do nấu kẽm: 780 tấn/năm

-          Do đốt than đá: thường 1 tấn than d91 đốt lên sẽ có 15gam As được sinh ra. Hàng năm do đốt than đá nên có khoảng 6.000 tấn As được giải phóng vào khí quyển.

Độc tính của As:

Khi ở nồng độ thấp thì As có tính kích thích sinh trưởng cây trồng, nếu nồng độ cao sẽ dẫn đến sự thiếu sắt cho thực vật.

Đối với liều cao trong nước (> 200ug/l) thì dẫn đến ung thư da. As rất độc nên từ lâu con người đã biết sử dụng nó như một phương tiện giết người.

Liều gây chết nười (0,15 gam). Nếu ít hơn nhưng dùng lâu ngày sẽ sinh ra ngộ độc mãn tính, viêm dây thần kinh dị cảm, sừng hóa, liệt cả tứ chi.

Khi ngộ độc Asen: Buồn nôn, khát nước, đau yết hầu khi nuốt, đau thượng vị, chóng mặt, co giật, da đỏ, mạch yếu, đau thắt lưng và bắp chân, khi đi ngoài phân lổn nhổn như hạt gạo như phù thủng ở vùng mắt.

Sơ cứu khi nhiễm độc: uống sữa, trứng sống, nước vôi làm cho nôn ra, sau khi nôn lại tiếp tục cho uống sữa nóng hay sữa đánh với lòng trắng trứng gà, sau đó tẩy rửa ruột và thông tiểu tiện.

vMột số kim loại năng sử dụng trong đông y

-          Thần sa, chu sa

-          Thạch tím

Thạch tím còn gọi là nhân ngôn (thực chất là vô cơ asen trioxit As2O3).

Đông y dùng: chữa hen suyễn, sốt rét lâu ngày

Tây y dùng: Làm chất kích thích, chữa thiếu máu.

-          Khinh phấn

-          Hồng hoàng

Đông y dùng: chữ hen suyễn, kinh giản, chữa phong độc trong xương, tả lỵ.

vCadimi (CD): Tên La tinh: Cadium. Tiếng Hy lạp “cadmea” có nghĩa là các quặng kẽm và kẽm oxit, trong oxit này người ta đã tìm ra cadimi.

Cadimi là một kim loại hiếm chiếm 1,3 x 10-5% khối lượng vỏ trái đất, cadimi thường gặp cùng với kẽm trong quặng. Về tính chất lý học và hóa học, cadimi giống với kẽm hơn hết, nó có màu trắng bạc, dễ rèn và dễ cán.

Nguồn gốc sản sinh cadimi:

Yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân học

Cadimi có trong thành phần các hợp kim dễ nóng chảy dùng để làm chất hàn.

Nhiễm độc cadimi:

-          Cadimi xâm nhập vào khí quyển và nguồn nước theo phương thức tự nhiên và nhân tạo

-          Cadimi xâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu qua thức ăn từ các loại cây trồng trên đất giàu cadimi hoặc tưới bằng nước chứa nhiều cadimi.

-          Cadimi được tích lũy trong thận và xương người

-          Cadimi xâm nhập vào cơ thể con người làm nhiễu loạn một số enzym nhất định rồi gây nên hội chứng hạ huyết áp rồi ung thư phổi.

-          Hai bệnh do môi trường gây nên đầu tiên được con người phát hiện là Itai – Itai do cadimi và bệnh minamata do thủy ngân cũng đều xuất phát từ Nhật.

-          Phụ nữ trong thời kỳ thai ngén mà thiều dinh dưỡng (do ăn kiêng) thì rất dễ chịu tác động độc hại của cadimi và dễ dẫn đến viêm thận và ung thư thận.

-          Người nghiện thuốc lá dễ hấp thụ cadimi hơn người không nghiện (mức hấp thụ cadimi trên đầu người nghiện 30 – 65 ug, người không nghiện 20 – 40 ug).

e.       Các chất rắn

f.        Ô nhiễm dầu và chất tẩy rửa tổng hợp

g.      Ô nhiễm nước bởi tác nhân sinh học

h.      Ô nhiễm nước bởi các chất phóng xạ

 

 

 

 

 

[Trở về]
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này