|
DẪN NHẬP
Ngôn ngữ lời nói là phương tiện trong quá trình lao động giao tiếp. Để sử dụng phương tiện đó, người ta luôn có ý thức chú ý đến việc tổ chức lời nói sao cho đạt hiệu quả cao trong quá trình ngôn giao. Ngay từ thuở xa xưa, khi chưa có các ngành khoa học về ngôn ngữ, ông cha ta đã đúc kết những kinh nghiệm vận dụng lời ăn tiếng nói của mình trong tục ngữ và cho đến nay, những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị. Cho dù chỉ mới là kinh nghiệm, nhưng tính triết lí ngôn giao dân gian đó vẫn giàu sức thuyết phục và sống mãi với thời gian.
Đấy là vì nó thể hiện cái logic của mình một cách hình tượng, hàm súc, đậm hơi thở của cuộc sống cùng sự trải nghiệm từ chính thực tế nói năng. Đằng sau mỗi câu tục ngữ, đằng sau những hình ảnh, những kinh nghiệm khái quát từ chính cuộc sống ấy là bản sắc văn hoá, là phong cách sống, là lối nói, cách nghĩ của người Việt nam chúng ta.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I : TÌM HIỂU VÀI NÉT VỀ TỤC NGỮ VIỆT NAM
1. KHÁI NIỆM
Đầu tiên phải nhắc đến khái niệm tục ngữ của ông Dương Quảng Hàm: tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì. Ông Chu Xuân Diên định nghĩa: Tục ngữ là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có đơn vị là câu, nội dung ghi lại những điều quan sát về thiên nhiên, con người và xã hội, những kinh nghiệm sống, những lời khuyên răn, có thể coi tục ngữ là một triết lí dân gian. Hay của ông Hoàng Tiến Tựu định nghĩa: “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, dễ nhớ, dễ truyền.”
cho nên nhận xét của nhà văn nổi tiếng Maxim GocKi về tục ngữ như sau: “ tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống kinh nghiệm lịch sử của nhân dân’“Phép vua thua lệ làng, Miếng trầu là đầu câu chuyện, Miếng trầu nên dâu nhà người”
Như vậy khái niệm của tục ngữ tạm đầy đủ chúng ta co thể nói chung các khái niệm Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có hệ thống hình ảnh phong phú, đa dạng, mang nhiều ý nghĩa; thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống và được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc sống của con người.
2. Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Thể Loại Tục Ngữ
2.1. Nguồn gốc
Thứ nhất, tục ngữ có nguồn gốc chủ yếu là do nhân dân sáng tác từ sự đúc rút những kinh nghiệm trong đời sống. Đó là những kinh nghiệm về lao động sản xuất, kinh nghiệm về đấu tranh với thiên nhiên hay kinh nghiệm về mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống xã hội, đời sống tinh thần. Các câu tục ngữ thuộc loại này chiếm khối lượng lớn và là nội dung chủ yếu trong kho tàng tục ngữ Việt Nam. Ta có thể liệt kê hàng loạt câu tục ngữ như
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa…
Thứ hai, tục ngữ được rút ra từ những thể loại dân gian khác như ca dao, truyện kể dân gian…Ta có một số câu tục ngữ như: Bụng làm dạ chịu/ Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho/ Của thiên trả địa/ Con vợ khôn lấy thằng chồng dại, như bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu…là tựa đề của một số truyện dân gian.
Thứ ba, tục ngữ hình thành do con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp rút ra từ các tác phẩm văn học viết. Trong trường hợp này, ta cũng cần lưu ý rằng rất có thể những tác giả văn học viết là những người sống gần gũi với nhân dân, cọ xát với kinh nghiệm sống của nhân dân. Những câu thơ, văn mà họ phát ngôn cũng là một cách vận dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân, gọt giũa cho trau chuốt rồi đưa vào tác phẩm. Từ đó, những “lời hay ý đẹp” này được nhân dân tiếp nhận và sử dụng hay nói cách khác là ban cho nó một đời sống lưu truyền của một tác phẩm văn học dân gian đích thực
Ví dụ như những câu:
“Ngày vui ngắn chẳng tày gang”,
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
“Có tài mà cậy chi tài/
Chữ tài liền với chữ tai một vần”…
là những câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhiều người dùng như là tục ngữ. Ngoài ra tục ngữ còn có nguồn gốc từ những điển cố, điển tích hay những lời nói bất hủ của các nhà tư tưởng, văn hóa, các nhà hoạt động nổi tiếng của các thời đại. Trong số những câu nói của danh nhân được dân gian hóa thành tục ngữ, chúng ta phải kể đến một số câu nói có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài du nhập vào nước ta và được Việt hóa. Phần lớn những câu tục ngữ kiểu này đến với nhân dân ta thông qua các nhà Nho.
2.2. Bản chất thể loại
Ở góc độ ngôn ngữ, tục ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt: kết cấu cân đối chặt chẽ, dựa trên sự lập luận logic và tương quan giữa các hiện tượng. Nó vừa mang chức năng cú pháp vừa mang chức năng ngữ nghĩa.
Ở góc độ xã hội, tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội. Đó là kho tàng tri thức dân gian về bức tranh lịch sử – xã hội của thời đại, là kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân trong lao động và tư tưởng chính trị – xã hội, tâm lí đạo đức của nhân dân lao động.
Ở góc độ nghệ thuật, tục ngữ là một đơn vị thông báo có tính nghệ thuật, là một dạng văn học đặc biệt “văn học đúc kết kinh nghiệm”
3. Nội Dung Phản Ánh Của Tục Ngữ
Mỗi thể loại văn học dân gian, do đặc trưng riêng biệt của mình, chỉ nhằm tổng kết kinh nghiệm của nhân dân về một lĩnh vực đời sống nào đó Có nhiều nội dung của tục ngữ nhưng ở đây chỉ nêu ra mà không đi sâu vào vì đề tài của tổ là tục ngữ nói năng mới chính là nội dung
ØTục ngữ dự báo thiên nhiên thời tiết
ØTục ngữ kinh nghiệm lao động sản xuất
ØTục ngữ ăn uống
ØTục ngữ liên quan anh chị em trong gia đình
ØTục ngữ học hành
ØTục ngữ nói năng
ØTục ngữ hôn nhân
ØTục ngữ phong tục tập quán
ØTục ngữ yêu và chết
4. Nghệ Thuật Của Tục Ngữ
Tính chất gọn chắc của câu tục ngữ.Từ ngữ, nhịp và vần của câu tục ngữ. Tính chất đối xứng của câu tục ngữ. Cấu trúc đối xứng đơn. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa.Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ….
CHƯƠNG II: TỤC NGỮ NÓI NĂNG
1. Tác Dụng Của Lời Nói Trong Giao Tiếp
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Ngôn ngữ là công cụ dùng để giao tiếp. Nhưng khi sử dụng ngôn ngữ, người ta không chỉ thuần tuý chuyển tải thông tin khách quan mà còn nhằm tác động vào đối tượng, chinh phục đối tượng hoặc thể hiện sự đánh giá tình cảm của mình... Ngôn ngữ có sức mạnh thật diệu kì. Nó có thể làm cho con người gần gũi, gắn bó ("Lời nói nên vợ nên chồng") hay mãi cách xa. Nó có thể làm cho chúng ta yêu thương hay căm giận. Nó có thể làm cho đối tượng tham gia giao tiếp phơi phới yêu đời hoặc dằn vặt, đau đớn ("Lời nói đau hơn roi vọt")
hay tiếc nuối, day dứt khôn nguôi ("Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời"). Nó có thể gây nên chiến tranh ("Khẩu thiệt đại can qua") mà cũng có khả năng làm "sóng yên biển lặng"...Vì thế, khi nói về giá trị của lời ăn tiếng nói, nhân dân ta đã dùng những hình ảnh biểu trưng cho sự quý giá để so sánh như:
"Lời nói, gói vàng"; "Lời nói quan tiền tấm lụa"... thậm chí rất cần thiết cho sự sống: "Một lời nói, một đọi máu". Giá trị càng cao thì người sở hữu càng phải trân trọng, giữ gìn khi vận dụng bởi:"Vàng sa xuống giếng khôn tìm, người sa lời nói như chim sổ lồng". Không biết kiểm soát ngôn từ, nói không đúng chỗ, lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ không hợp lí, không phù hợp với đối tượng, không diễn đạt chính xác tâm tư tình cảm của mình thì có thể gây nên những hậu quả khôn luờng. Bởi vì dù "Lời nói gió bay" nhưng có thể "há miệng mắc quai" do "Một lời đã trót nói ra, dù rằng bốn ngựa khó mà đuổi theo"; "Sẩy chân đã có ngọn sào, sẩy miệng biết nói làm sao bây giờ".
2. Lời Nói Và Phong Cách
Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng mỗi người, khi sử dụng lại có những thể hiện riêng, có thói quen ngôn ngữ riêng. Ngay cả mỗi cá nhân, cùng một nội dung thông báo nhưng nếu hoàn cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp...thay đổi thì việc vận dụng ngôn ngữ cũng có sự thể hiện khác biệt. Tất cả những điều này tạo nên sự sinh động, đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng của ngôn ngữ giao tế. Sự hiện thực hoá ý tưởng bằng những phát ngôn cụ thể trong quá trình ngôn giao đều mang đậm dấu ấn phong cách của mỗi người. Có thể nói qua lời ăn tiếng nói, người ta phần nào thể hiện tâm hồn, tính cách và tình cảm của mình... Nếu Buffon (1707- 1788)- một nhà văn, nhà lí luận Pháp- có khẳng định:"Phong cách là chính con người" (Le style, c’est l’homme) thì từ xa xưa, điều này đã được tục ngữ Việt Nam đề cập. Khác với cách nói mang tính hàn lâm, tục ngữ thể hiện cái logic của mình bằng lối nói so sánh hình tượng; giàu sắc thái biểu cảm mà không kém phần triết lí:"Vàng thì thử lửa thử than, chim khôn thử tiếng người ngoan thử lời"; "Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe"; "Đất tốt trồng cây rườm rà, những người thanh lịch nói ra dịu dàng"; "Đất rắn trồng cây ngẳng nghiu, những người thô tục nói điều phàm phu". Ai cũng có lúc "nhả ngọc phun châu" và cũng có khi không thể kiềm lòng mà tuôn ra những lời khó nghe, khiếm nhã.
3. Lời nói và vị thế xã hội
Tục ngữ còn đề cập đến vị thế của người giao tiếp. Mỗi người, khi tham gia giao tiếp, bao giờ cũng xuất hiện với một tư cách, một cương vị nhất định mà mối quan hệ gia đình và xã hội đã quy định. Có mối quan hệ ngang vai, có mối quan hệ không bằng vai. Trong quan hệ giao tiếp không bằng vai, rõ ràng lời nói của vai trên có "sức nặng" hơn vai dưới. Trên nói, dưới nghe. Gia đình và xã hội khó mà ổn định và phát triển nếu trật tự này bị xoá nhoà hay không được tôn trọng. Nhưng điều đó cũng không cho phép vai trên muốn nói gì thì nói theo kiểu "Chân lí nằm trong tay kẻ mạnh". Khi đề cập đến vị thế của người giao tiếp, sự thể hiện của tục ngữ có phần nào đó vừa mỉa mai, chỉ trích vừa bi quan, chua chát: "Tay mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá người nghe ầm ầm"; "Trong lưng chẳng có một đồng, lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe". "Miệng nhà quan có gang có thép".
4. Một Số Tiêu Chuẩn Của Nói Năng Giao Tiếp
Lời nói là công cụ giao tiếp, lời nói thể hiện phẩm chất, trình độ của mỗi con người. Biết dùng lời nói thích hợp sẽ tạo được hiệu quả tốt trong giao tiếp. Vì vậy, chúng ta phải tự rèn luyện cách nói năng văn minh, lịch sự để đạt được mục đích như mong muốn
Xưa nay ông cha ta luôn khuyên răn và chỉ dạy con cháu mình phải biết: Học ăn, học nói, học gói, học mở. Có lẽ khi nói đến những điều này không ít người tự hỏi: Tại sao trong cuộc đời chỉ cần học có 4 điều thôi? Phải chăng, để làm một con người cho ra một con người tử tế, thì chí ít cũng phải thấu hiểu về minh triết của 4 từ ăn, nói, gói, mở, mà cha ông ta luôn khuyên dạy
Con người không thể sống nếu không ăn và cũng khó thể tồn tại và phát triển nếu thiếu sự giao tiếp. Trong quá trình thực hiện các hành động này, nếu nhai không tốt, nghĩ chưa sâu thì đều có thể dẫn đến kết quả xấu. Để nhấn mạnh điều này, tục ngữ Việt đã nêu lên những hậu quả khôn lường khi nói năng thiếu nghĩ suy bằng những so sánh giàu hình tượng:"Sẩy chân còn hơn sẩy miệng"; "Vạ ở miệng mà ra, bệnh qua miệng mà vào"; "Vạ tay không hay bằng vạ mồm"...Triết lí này dẫn đến một yêu cầu thứ ba khi vận dụng ngôn ngữ. Đó là cần chú ý lựa lời khi nói năng.
KẾT LUẬN
Giá trị đích thực của hoạt động nói năng không chỉ là thông tin mà còn là để con người gần nhau, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau. Lấy tình cảm làm nguyên tắc lựa lời là văn hoá ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam: "Chim khôn chưa bắt đã bay, người khôn chưa nói dang tay đỡ lời"; " Chim khôn ai nỡ bắn, người khôn ai nỡ nói nặng"; "Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi, người khôn ai nỡ nặng lời đến ai"; "Người khôn ai nỡ roi đòn, một lời nói nhẹ hãy còn đắng cay" ; "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Lời khuyên này có lẽ không bao giờ cũ, không bao giờ thừa với tất cả mọi người.
TÀI LIỆU THAM KHAO
Chu Xuân Diên (chủ biên),Lương Văn Đang, Phương Tri, Tục ngữ ViệtNam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
Phan Kế Bính, Việt Nam Phong tục , NXB Hà Nội
Toan Ánh , Phong tục ViệtNam, NXB Đồng Tháp
Phan Thị Đào, Tìm hiểu thi pháp tục ngữ ViệtNam, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997
Trần Hoàng , Giáo Trình VHDGVN , Huế, 1995
Đinh Gia Khánh, Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, NXBKHXH, Hà Nội, 1989.
Đinh Gia Khánh (chủ biên), VHDGVN, NXB Giáo dục, 1997
Mã Giang Lân, Tục ngữ ca dao ViệtNam, NXB Giáo dục, 1998
Bùi Mạnh Nhị, VHDG, Những công trình nghiên cứu, NXBGD
Vũ Ngọc Phan , Tục ngữ ca dao dân ca VN, NXB Khoa học xã hội
Hoàng Tiến Tựu, VHDGVN ( Giáo trình ĐT Giáo viên THCS).
|